Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: 122 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 - 19/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Năm, 2012, 11:58:54 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 209775 lần)
0 Thành viên và 4 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #460 vào lúc: 09 Tháng Một, 2012, 09:19:57 PM »

Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945 ông cùng khoảng 1700 bạn tù được đón về đất liền, phân công đi các nơi phục vụ cho việc xây dựng chính quyền nhân dân, chuẩn bị Kháng chiến.  Ngày 25 tháng 10, ông cùng các ông Nguyễn Tấn Phúc (còn gọi là Nguyễn Văn Phúc), Hồ Tri Tân, Trần Ánh Sáng trong đoàn tù chính trị Côn Đảo được Xứ ủy Nam Kỳ cử về Bà Rịa - Vũng Tàu củng cố tổ chức Đảng và Mặt trận Việt Minh. Lúc này, Bà Rịa - Vũng Tàu đều chưa thành lập Tỉnh ủy, hoạt động của các đảng viên tập trung vào việc xây dựng chính quyền, xây dựng Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể, tuyên truyền và huấn luyện cán bộ. Công tác xây dựng Đảng mới chỉ bắt đầu tập hợp số đảng viên cũ và đưa cán bộ có năng lực nắm giữ các cương vị chủ chốt của chính quyền, lực lượng vũ trang, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể. Trước hoàn cảnh đó, Trần Xuân Độ phụ trách công tác Đảng, tương đương Bí thư Tỉnh ủy. Với vốn lý luận được học tập trong nhà tù Côn Đảo, Trần Xuân Độ cùng người bạn Nguyễn Tấn Phúc, Phụ trách Mặt trận Việt Minh, đã mở nhiều lớp huấn luyện chủ nghĩa Mác - Lê-nin và chương trình Việt Minh ở Bà Rịa và Vũng Tàu. Đó cũng là giai đoạn quân và dân Bà Rịa - Vũng Tàu nhà khẩn trương chuẩn bị cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm.

Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Hội nghị mở rộng Xứ ủy Nam Kỳ họp tại Đức Hòa, Long An, đã quyết định thành lập Ủy ban Hành chính Kháng chiến miền Nam do ông Cao Hồng Lĩnh (1906-2010), sau là Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng phụ trách Ban Cán sự Đảng ngoài nước, làm Chủ tịch. Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành ba khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9. Khu 7 gồm thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa (Vũng Tàu được sáp nhập vào Bà Rịa). Và cặp bạn tù thân thiết Nguyễn Bình - Trần Xuân Độ được cử làm Khu bộ trưởng (tương đương Tư lệnh) và Chủ nhiệm Chính trị bộ (tương đương Chính ủy).

Mặc dù là Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 7, nhưng thực tế Trần Xuân Độ vẫn ở Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phong trào Kháng chiến ở địa phương. Hội nghị hợp nhất các cơ quan Quân - Dân - Chính - Đảng hai tỉnh Bà Rịa và Vũng Tàu được tổ chức cuối tháng 12 năm 1945, đề ra chủ trương củng cố Đảng và Mặt trận Việt Minh. Mặc dù chưa tuyên bố thành lập Tỉnh ủy, chưa cử ra Ban chấp hành lâm thời, ông vẫn giữ cương vị lãnh đạo cao nhất về công tác Đảng và Mặt trận Việt Minh. Trong cương vị người lãnh đạo cao nhất của Đảng, ông thường xuyên kiểm tra hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, giáo dục đạo đức, bồi dưỡng lý luận và phương pháp công tác cho cán bộ.

Những ngày đầu của Kháng chiến tại Bà Rịa - Vũng Tàu xảy ra sự việc Trịnh Ngọc Hiền và Phan Đình Tân phản bội, ra mặt chống phá Cách mạng. Sau khi ổn định bộ máy, Hiền tự xưng là Tổng tư lệnh và tuyên bố nắm quyền quản lý và chỉ huy toàn bộ lực lượng vũ trang trong tỉnh, ra lệnh buộc Ủy ban hành chính phải giao nộp hết vàng bạc và tất cả của cải đã vận động nhân dân đóng góp để mình quản lý và nuôi quân. Trịnh Ngọc Hiền và Phan Đình Tân bí mật tổ chức truy lùng cán bộ Việt Minh thủ tiêu Đảng viên Cộng sản. Đối với nhân dân thì lực lượng này ra mặt cướp bóc trâu bò, lúa gạo, tiền bạc với danh nghĩa là trưng mua bằng giấy viết tay, rồi bắt phụ nữ có nhan sắc đến phục vụ tại Tổng hành dinh. Ngày 10 tháng 1 năm 1946, Trần Xuân Độ về công tác tại Long Điền và bị lực lượng thân binh của Hiền - Tân bắt giam. Tình cờ trong lực lượng thân binh người vốn là công nhân ở Hải Phòng, từng quen biết và kính trọng ông nên đã mở cửa nhà giam lúc nửa đêm cho ông trốn đi.

Trung tuần tháng 2 năm 1946, sau khi Bà Rịa - Vũng Tàu bị thực dân Pháp đánh chiếm, Trần Xuân Độ cùng các Đảng viên trung kiên như Nguyễn Tấn Phúc, Bùi Công Minh, Hồ Thị Trinh, Hồ Thị Tường, Hồ Sỹ Nam, Nguyễn Thị Hồng... về Long Mỹ xây dựng căn cứ Kháng chiến. Tại đây, tháng 3 năm 1946, ông chủ trì Hội nghị Tỉnh bàn về các hoạt động quân sự, xác định nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang là phải bám địa bàn chiến đấu, tổ chức một trận đánh hiệp đồng ở nhiều địa điểm trong tỉnh, đánh địch càn quét, lấn chiếm, vi phạm Hiệp định, nhằm cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân Tỉnh. Cũng tại Hội nghị Cán bộ Tỉnh tháng này, ông tiếp tục được cử đứng đầu Ban lãnh đạo kháng chiến ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Cuối năm đó, ông nhận quyết định chuyển hẳn về công tác tại Bộ Tư lệnh Khu 7. Đầu tháng 10 năm 1946, trên cương vị Chủ nhiệm chính trị bộ Khu 7, ông về Long Mỹ trực tiếp chỉ đạo củng cố chính quyền và các đoàn thể của Bà Rịa - Vũng Tàu, và chủ trị Hội nghị Mặt trận Việt Minh của Tỉnh.

Thời gian ở Bộ Tư lệnh Khu 7, Trần Xuân Độ rất tâm đầu ý hợp với Tư lệnh Nguyễn Bình trên nhiều phương diện. Trong tác phẩm “Nguyễn Bình - Huyền thoại và sự thật”, nhà văn Nguyên Hùng cũng đã nhiều lần nhắc đến ông. Ở Trần Xuân Độ toát lên một thái độ kiên quyết đánh Pháp tới cùng, một thái độ cứng rắn trên cơ sở sự từng trải từ thời kỳ Khởi nghĩa Yên Bái (1930) rằng không đời nào Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam thông qua thương lượng, ngoại giao. Tiêu biểu là chuyện ông phản đối việc gặp gỡ, thương nghị với viên Đại tá Fehler, Chỉ huy trưởng Khu Đông của Pháp, mà thực chất là để thăm do nắn gân Bộ Tư lệnh Khu 7 đồng thời hòa hoãn tạo điều kiện cho Pháp đánh Khu 8 và 9, trong khi các trí thức và chỉ huy như Phạm Thiều, Lê Đình Chi, Võ Bá Nhạc tán thành. Theo Trần Xuân Độ “Thằng Tây là thằng thực dân, muốn nuốt chứ không bao giờ nhả. Nó bày truyện thương lượng với mình là tính cầm chân mình ở Khu 7 để đánh chiếm hai khu 8 và 9. Đó là kế bẻ đũa từng chiếc như anh Nhạc vừa nói. Biết tẩy của chúng rồi, tại sao chúng ta lại đi thương thuyết với chúng làm chi cho mất thời giờ? Với thực dân thì chỉ có đánh với đánh thôi!”. Sau có điện của Trung ương cho biết ý kiến của ông mặc dù là thiểu số, nhưng đúng.

Sau sự kiện trên, Trần Xuân Độ xin Xứ ủy Nam Kỳ cho thôi chức Chủ nhiệm Chính trị Bộ Khu 7, và về Bà Rịa - Vũng Tàu tiếp tục công tác cũ, thích hợp với ông hơn. Xứ ủy thấy đề nghị của ông hợp lý, chấp thuận và điều ông Nguyễn Văn Trí (Hai Trí) về thay.

Cuối năm 1948, ông được Trung ương điều ra Bắc. Sau đó dự họp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951) rồi trở về miền Nam, được Xứ uỷ chỉ định làm Thư ký công đoàn miền Tây Nam bộ. Từ tháng 7 năm 1954, kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, hoà bình lập lại ở Việt Nam và các nước Đông Dương, Trần Xuân Độ tập kết ra Bắc. Năm 1955 ông được chính phủ cử làm Đại sứ (đầu tiên) Việt Nam dân chủ cộng hoà tại nước Cộng hoà nhân dân Triều Tiên. Từ ấy ông chuyển sang hẳn làm công tác ngoại giao cho đến ngày nghỉ hưu. Ông mất ngày 3 tháng 12 năm 1997 thọ 104 tuổi. Hiện nay, tại thành phố Vũng Tàu có một con đường mang tên ông. Cuộc đời của ông đã được khắc họa trong hồi ký "Chiến đấu viên họ Trần" do nhà văn Việt Hùng (Hùng Lí) chắp bút.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Một, 2012, 10:27:27 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #461 vào lúc: 17 Tháng Một, 2012, 08:36:40 PM »


Liệt sĩ Lê Văn Sỹ (1910 - 1948) từng giữ chức vụ Chính ủy đầu tiên Khu 8. Ngoài ra, ông còn từng là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Xứ Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ông tên thật là Võ Sỹ, quê ở thôn Minh Tân, xã Đức Minh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1925, ông tham gia tổ chức Công ái xã, và trở thành hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào năm 1927, tích cực tham gia phát triển Hội tại quê nhà. Tháng 8 năm 1929, ông bị bắt tại nhà lao Quảng Ngãi, rồi lần lượt bị giam tại nhà ngục Quy Nhơn, Kon Tum.

Tháng 10 năm 1931, hết hạn tù, trở về quê hương, ông bắt liên lạc với tổ chức tiếp tục hoạt động khôi phục phong trào cũng như tổ chức Đảng vốn bị chính quyền thực dân phong kiến khủng bố dã man sau cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Tháng 1 năm 1932, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Tuy nhiên, trong năm này, ông bị thực dân Pháp bắt giam lần thứ 2, bị đày ra Lao Bảo, rồi Côn Đảo cùng đợt với 2 nhà Cách mạng khác là các ông Võ Thúc Đồng (1914-2007), từng là Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nông nghiệp Trung ương, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, và Hà Thế Hạnh vào tháng 6 năm 1935.

Cách mạng tháng Tám thành công, tháng 9 năm 1945, ông được đón về đất liền cùng đoàn tù chính trị Côn Đảo và được phân công ở lại hoạt động ở miền Nam, tham gia Xứ ủy Nam Kỳ trên cương vị Xứ Ủy viên. Thời gian này, ông lấy tên là Lê Văn Sỹ. Đầu tháng 12 năm 1945, khi Khu 8 được thành lập, ông được Xứ ủy chỉ định làm Chính ủy đầu tiên. Khi quân Pháp đánh chiếm được thị xã Sa Đéc, ông cùng Bộ Tư lệnh Khu đưa lực lượng xuống Khu 9 lập chiến khu. Sau đó một thời gian, ông được điều ra miền Trung, rồi ra Bắc vào cuối năm 1946.

Đầu năm 1947, ông cùng đoàn cán bộ vào Nam do ông Lê Duẩn (1906-1986), sau là Tổng Bí thư, dẫn đầu, và được cử giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn. Lê Văn Sỹ hy sinh tháng 10 năm 1948 trong một cuộc càn quét của quân Pháp vào vùng Láng Le, Vườn Thơm (nay thuộc Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh). Tên ông đã được đặt cho một con đường, một cây cầu, một trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh. Tại thành phố Quảng Ngãi, cũng có một con đường mang tên ông.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Ba, 2012, 07:22:38 AM gửi bởi selene0802 » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #462 vào lúc: 20 Tháng Một, 2012, 10:25:31 PM »


Hoàng Dư Khương (2.2.1911 – 13.12.1983) từng giữ chức vụ Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9. Ngoài ra, ông còn từng là : Xứ ủy viên Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Chủ nhiệm Kỳ bộ Việt Minh Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, Phó Bí thư Liên khu Ủy miền Đông Nam Bộ, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy chương 40 năm tuổi Đảng.


Ông tên thật là Hoàng Xan sinh tại xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trước Cách mạng, sau khi đỗ thành chung, năm 1933, ông thi đỗ vào Trường Bá nghệ Huế. Năm 1935 học xong, năm 1936 ông bắt đầu giác ngộ và tham gia hoạt động Cách mạng trong phong trào Đông Dương Đại hội. Năm 1937, ông chuyển vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân cao su tại đồn điền Dầu Tiếng, rồi xin vào làm công nhân hỏa xa ở ga Tháp Chàm, Bình Thuận. Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động trong phong trào công nhân, lao động Sài Gòn – Chợ Lớn.

Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, Hoàng Dư Khương tham gia lãnh đạo giành chính quyền ở Sài Gòn – Gia Định và được cử vào Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, phụ trách Kỳ bộ Việt Minh. Trong 2 năm 1948 – 1949, ông vào phụ trách Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, rồi được điều về Khu 9 làm Chính ủy Bộ tư lệnh Khu. Năm 1950, khi Nam Bộ được tổ chức lại thành 2 Phân liên khu miền Đông và miền Tây, ông được cử làm Phó bí thư Liên khu miền Đông Nam Bộ cho đến ngày đình chiến (7.1954). Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được phân công ở lại hoạt động tại miền Nam, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ.

Năm 1957, do cơ sở nội thành bị vỡ, ông bị bắt cùng nhiều đồng chí khác. Biết ông là cán bộ lãnh đạo cao cấp ở miền Nam, chính quyền Diệm tìm mọi cách chiêu dụ và mời ông “hợp tác”, nhưng ông cương quyết cự tuyệt. Sau đó, Hoàng Dư Khương bị tra tấn dã man rồi bị đày ra Côn Đảo.

Tại Côn Đảo, ông tham gia lãnh đạo phong trào đấu tranh của tù chính trị, cùng các đồng chí trong nhóm trung kiên kiên quyết chống lại âm mưu « li khai » bất chấp mọi cực hình, đàn áp dã man, chịu đựng mọi đói khát, hành hạ. Cuối cùng, không khuất phục được ý chí của ông, chính quyền Diệm đưa ông vào giam ở Chuồng Cọp nhiều năm khiến hai chân bại liệt không đi lại được.

Sau Hiệp định Paris (1973), ở Côn Đảo nổi lên cuộc đấu tranh đòi thả tù chính trị. Để che giấu tội ác, chính quyền Thiệu lựa chọn một số tù già yếu, bệnh tật, tàn phế đưa về đất liền, rồi tìm cách “phóng thích” chứ không trao trả chính thức như điều đã thỏa thuận trong Hiệp định. Trong số này có Hoàng Dư Khương. Ông bị đưa về sân bay Biên Hòa, thay vì đến sân bay Lộc Ninh (địa điểm trao trả), rồi giữ tại nhà giam Bình Dương, báo cho thân nhân đến nhận. Biết tin này, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định đã bố trí cơ sở tìm cách liên lạc đón ông trốn thoát, đưa về căn cứ. Do hai chân bị liệt, sức khỏe suy kiệt, ông được đưa, sau đó, ra Hà Nội tiếp tục điều trị, nhưng không thể nào hồi phục được. Vì lí do sức khỏe suy giảm nghiêm trọng, ông được cho nghỉ hưu.

Sau giải phóng, ông chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sống cùng gia đình, và mất tại đây vào ngày 13 tháng 12 năm 1983. Tên của ông đã được đặt cho một đường và một trường tiểu học ở Đà Nẵng, và được đặt cho một đường tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo : Danh nhân đất Quảng
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Một, 2012, 10:55:01 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
thainhi_vn
Thành viên
*
Bài viết: 676


« Trả lời #463 vào lúc: 21 Tháng Một, 2012, 12:33:13 PM »

Hôm trước rảnh rỗi ngồi thống kê một số thông tin về các Đại tướng quân đội ta, nay pót lên để mọi người xem chơi. Các thông tin này chỉ tính tới thời điểm pót bài.

Những chi tiết đáng chú ý về các Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam

Về xuất thân

Có 6 người gốc miền Bắc (Văn Tiến Dũng - Hà Nội, Hoàng Văn Thái - Thái Bình, Lê Trọng Tấn - Hà Nội, Nguyễn Quyết - Hưng Yên, Phạm Văn Trà - Bắc Ninh, Phùng Quang Thanh - (Hà Nội), 5 người gốc miền Trung (Võ Nguyên Giáp - Quảng Bình, Nguyễn Chí Thanh - Thừa Thiên Huế, Chu Huy Mân - Nghệ An, Lê Đức Anh - Thừa Thiên Huế, Đoàn Khuê - Quảng Trị). Chỉ duy nhất có 1 người gốc miền Nam (Lê Văn Dũng - Bến Tre).

Hà Nội là địa phương xuất thân nhiều đại tướng nhất (3 người). Kế đó là Thừa Thiên Huế (2 người). Các tỉnh Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Bến Tre, mỗi tỉnh xuất thân một người.

Có 9 người tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1945. Xuất thân nghề nghiệp trước khi gia nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam, có 1 người là trí thức (Võ Nguyên Giáp), 4 công nhân (Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái, Lê Đức Anh, Nguyễn Quyết), 3 nông dân (Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Đoàn Khuê) và 1 là binh sĩ thuộc địa (Lê Trọng Tấn). Ba người còn lại tham gia sau năm 1945 là Phạm Văn Trà (1953), Lê Văn Dũng (1963), Phùng Quang Thanh (1967) và đều theo binh nghiệp từ năm 18 tuổi.

Về các cương vị trong quân đội

Dưới đây là thống kê những chức vụ chủ chốt trong quân đội do các đại tướng từng nắm giữ

    Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang: 1 người (Võ Nguyên Giáp)
    Bí thư Quân ủy Trung ương: 2 người (Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng)
    Bộ trưởng Quốc phòng: 6 người (Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phạm Văn Trà, Phùng Quang Thanh)
    Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: 4 người (Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết, Lê Văn Dũng)
    Tổng Tham mưu trưởng: 8 người (Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phạm Văn Trà, Lê Văn Dũng, Phùng Quang Thanh)

Có 2 người từng nắm giữ 3 chức vụ chủ chốt là Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bí thư Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng) và Văn Tiến Dũng (Bí thư Quân ủy, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng), 5 người từng nắm giữ 2 chức vụ là Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Phàm Văn Trà, Phùng Quang Thanh (đều cùng nắm giữ Tổng Tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Quốc phòng) và Lê Văn Dũng (Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị). Bốn người còn lại chỉ giữ một chức vụ là Nguyễn Chí Thanh, Chu Huy Mân, Nguyễn Quyết (đều là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn (đều là Tổng Tham mưu trưởng).

Về các chức vụ Đảng, tất cả 12 người đều từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó có 8 người được bầu vào Bộ Chính trị, 2 người vào Ban Bí thư.

Đến thời điểm này, có 9 người đã được trao tặng Huân chương Sao vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam. Hai người được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Về thời điểm thụ phong

Có 3 người được phong trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, 5 người được phong trong thời gian xung đột biên giới Phía Bắc và Tây Nam. Bốn người còn lại được phong vào thời bình.

Độ tuổi trung bình của các đại tướng khi thụ phong là 60 tuổi.

Có 9 người được phong tướng trước 1975, trong đó có 5 người thụ phong hàm tướng vượt cấp gồm Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (thụ phong thẳng hàm Đại tướng), Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân (thăng vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng) và Lê Đức Anh (thăng vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng).

Các năm 1984, 1990 và 2007 đều có 2 đại tướng được phong trong năm.

Giai đoạn 1984-1986 có nhiều đại tướng tại nhiệm nhất: 6 người (Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Chu Huy Mân, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Văn Tiến Dũng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Tổng Tham mưu trưởng Thứ nhất Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia Lê Đức Anh)

Các kỷ lục cá nhân

    Người nắm giữ chức vụ nhà nước cao nhất: Lê Đức Anh, Chủ tịch nước (1992-1997)
    Người nắm giữ chức vụ quân đội cao nhất: Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và dân quân (1946-1975)
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên: Võ Nguyên Giáp, nhậm chức ngày 3 tháng 11 năm 1946
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng lâu nhất: Võ Nguyên Giáp, 32 năm 96 ngày
    Người giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng ngắn nhất: Lê Đức Anh, 4 năm 175 ngày
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên: Hoàng Văn Thái, nhậm chức ngày 2 tháng 3 năm 1946
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng lâu nhất: Văn Tiến Dũng, 24 năm 165 ngày
    Người giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng ngắn nhất: Lê Đức Anh, 63 ngày
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên: Nguyễn Chí Thanh, nhậm chức ngày 11 tháng 7 năm 1950
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị lâu nhất: Nguyễn Chí Thanh, 10 năm 248 ngày
    Người giữ chức vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ngắn nhất: Nguyễn Quyết, 3 năm 309 ngày
    Người giữ quân hàm hiện dịch dài nhất: Võ Nguyên Giáp, 43 năm, 204 ngày
    Người giữ quân hàm hiện dịch ngắn nhất: Lê Trọng Tấn, 1 năm, 343 ngày
    Người thụ phong trẻ nhất: Võ Nguyên Giáp, 36 tuổi 148 ngày
    Người thụ phong già nhất: Lê Trọng Tấn, 70 tuổi 352 ngày
    Người có tuổi thọ cao nhất: Võ Nguyên Giáp, 100 tuổi 149 ngày
    Người có tuổi thọ cao nhất còn sống: Võ Nguyên Giáp, 100 tuổi 149 ngày
    Người có tuổi đời nhỏ nhất: Nguyễn Chí Thanh, 53 tuổi 186 ngày
    Người có tuổi đời nhỏ nhất còn sống: Phùng Quang Thanh, 62 tuổi 353 ngày
    Người có nhiều yếu tố nhất: Võ Nguyên Giáp (7 yếu tố)

Mời các bác tham gia bổ sung thêm  Grin
Logged
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #464 vào lúc: 23 Tháng Một, 2012, 04:19:17 AM »


Đại tá Bùi Thanh Khiết (Lâm Thanh, 30.12.1924 – 7.1.1984) từng giữ các chức vụ: Trưởng Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Khu 7, Trưởng Phòng Chính Bộ Tư lệnh Khu 8, Trưởng Phòng Chính trị Tỉnh đội Long Châu Hà, Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 330, Phó Chính ủy Quân khu 7, Phó Chính ủy Quân khu 8, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Ban liên hợp Quân sự bốn bên tại trại David, Cục phó Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định.

Ngoài ra, ông còn từng là: Khu ủy viên Khu 8, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo kiêm Bí thư Đảng ủy Bộ, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Quốc hội, Trưởng Ban Thư ký, Ủy ban cải cách Giáo dục Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Đào tạo, Bồi dưỡng và Phân phối cán bộ Khoa học Kỹ thuật Trung ương. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 7, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 4.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba)…


Ông quê tại xã Tân An, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, tham gia Quân đội từ năm 1945, chiến đấu tại chiến trường miền Đông và Tây Nam Bộ. Từ năm 1947 đến năm 1954, ông lần lượt giữ các chức vụ Trưởng Phòng Chính trị Bộ tư lệnh Khu 7, Trưởng Phòng Chính Bộ Tư lệnh Khu 8, Trưởng Phòng Chính trị Tỉnh đội Long Châu Hà. Năm 1955, tập kết ra Bắc, ông là Chính ủy Trung đoàn rồi Phó Chủ nhiệm Chính trị Đại đoàn 330 – Cửu Long.

Năm 1964, ông trở về miền Nam tham gia đánh Mỹ, trải qua các cương vị Phó Chính ủy Quân khu 7, Phó Chính ủy Quân khu 8 và tham gia Khu ủy Khu 8. Trong các năm 1973 – 1974, ông là Phó trưởng Đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ban liên hợp Quân sự bốn bên tại trại David. Trước khi bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, phụ trách khối dân vận.

Đất nước thống nhất, ông chuyển ngành làm giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, rồi được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đạo tạo kiêm Bí thư Đảng Đoàn Bộ vào cuối năm 1976. Tại Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng Khó 4, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương, lần lượt đảm nhiệm các chức vụ trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Đại tá Bùi Thanh Khiết là Đại biểu Quốc hội Khóa 7, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật của Quốc hội (1981). Ngoài ra, ông còn là Trưởng ban Thư ký, Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Đào tạo, Bồi dưỡng và Phân phối Cán bộ Khoa học Kĩ thuật Trung ương.

Đại tá Bùi Thanh Khiết mất ngày 7 tháng 1 năm 1984 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tên ông đã được đặt cho một con đường, một trường tiểu học tại thành phố này.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #465 vào lúc: 26 Tháng Một, 2012, 04:47:37 PM »


Lê Thanh Nghị (6.3.1911 – 16.8.1989) từng giữ các chức vụ : Ủy viên Ủy ban Quân sự Bắc kỳ - trực tiếp chỉ đạo Khởi nghĩa Vũ trang tại Liên khu 3, Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu 3. Ngoài ra, ông còn từng là : Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ, Bí thư Khu ủy Khu 3, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Khu 3, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp, Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp Chính phủ, Trưởng Ban Công nghiệp Trung ương rồi Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Nhà nước.

Ông là Đại biểu Quốc hội từ Khóa 2 đến 7, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Khóa 1 và 2, Ủy viên Trung ương Đảng từ Khóa 2 đến 5, Ủy viên Bộ Chính trị từ Khóa 2 đến 4, Bí thư Trung ương Đảng Khóa 4, Thường trực Ban Bí thư Khóa 4.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng…


Ông tên thật là Nguyễn Khắc Xướng, có tài liệu ghi là Nguyễn Khắc Xứng, sinh ra trong một gia đình Nho giáo lâu đời, giàu truyền thống hiếu học và yêu nước tại làng Thượng Cốc, huyện Tứ Kỳ, nay thuộc xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông là hậu duệ đời thứ 13 của tướng Nguyễn Công Nguyên dưới triều vua Lý Nhân Tông. Dòng họ ông thời phong kiến có 5 người đỗ đại khoa là Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Khắc Hải, Nguyễn Trọng Hổ, Nguyễn Địch Giáo, nổi tiếng nhất là Nguyễn Quý Tân, đỗ năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) và thường được gọi là Nghè Tân. Thời hiện đại, bên cạnh Nguyễn Khắc Xướng, dòng họ ông còn có nhà Cách mạng Nguyễn Hới, giác ngộ từ rất sớm, năm 1926 đã tham gia các khóa đào tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu.

Bố ông là cụ Nguyễn Năng Việt (1874 – 1950), thường gọi là Khóa Việt, làm nghề dạy học, mẹ ông là bà Nguyễn Thị Mùi, làm nghề nông. Ông có 8 anh chị em, trong đó có 4 anh em trai là các ông Nguyễn Khoái tức Lê Thành Lập (1904 – 1985) nguyên Ủy viên Chính trị Liên khu 3, Tổng Thư ký Mặt trận Liên việt toàn quốc, Nguyễn Năng Hách (1914 – 1981) nguyên Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến tỉnh Hải Dương trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Thiệu Ước tức Lê Thành Ân. Tất cả anh em ông đều sớm giác ngộ Cách mạng, đều là những cán bộ lãnh đạo đầu tiên, cốt cán của Đảng tại địa phương trước năm 1945, và sau này là những cán bộ cao cấp của Nhà nước và Đảng.

Năm 1927, ông tham gia vào các khóa học do nhóm Việt Nam Cách mạng Thanh, một thời kì vẫn bị gọi nhầm là Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, niên đầu tiên của làng tổ chức tại miếu Cốc do anh trai ông Nguyễn Khoái, khi ấy đóng giả là thầy giáo nên dân làng vẫn gọi là giáo Khoái, và ông Nguyễn Hới tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Sau khi kết thúc khóa học, ông ra Hải Phòng làm thợ điện ở Nhà máy điện Cửa Cấm được một thời gian thì thất nghiệp phải xin ra vùng Mỏ Quảng Ninh làm ở Nhà máy điện Vàng Danh rồi trở về Vàng Danh làm phu mỏ. Tại đây, ông bắt đầu những hoạt động Cách mạng đầu tiên và được kết nạp vào Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1929. Ông tham gia cùng chi bộ, lãnh đạo công nhân đấu tranh với chủ mỏ, đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống. Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, ông được kết nạp Đảng và lấy tên mới là Lê Thanh Nghị để hoạt động.

Tháng 5 năm 1930, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt, giam tại nhà tù Hải Phòng cùng với các ông Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Lương Khánh Thiện, bị kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Năm 1936, Mặt trận bình dân Pháp lên cầm quyền, ân xá tù chính trị ở Đông Dương, ông được trở về quê nhưng vẫn bị quản thúc. Chính quyền khi đó cho ông vào làm bàn giấy ở toà sứ để dễ quản lý, nhưng ông không nhận, mà xin làm ở Nhà máy nước Ninh Giang để có điều kiện hoạt động. Một thời gian sau, ông bắt được liên lạc với tổ chức Đảng, hoạt động bí mật ở Hải Dương và Hải Phòng, xây dựng nhiều cơ sở Đảng, rồi chuyển lên tham gia Thành uỷ Hà Nội.

Cuối năm 1937, Lê Thanh Nghị lại được cử về tiếp hoạt động và xây dựng phong trào ở Hải Dương. Giữa năm 1939, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc kỳ, tham gia Ban cán sự liên tỉnh B (các tỉnh thuộc Khu 3 ngày nay). Đầu năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai, bị kết án 5 năm tù, đày đi Sơn La. Đầu năm 1945, ra tù, trở về đúng lúc cao trào cứu nước do Đảng lãnh đạo thông qua Mặt trận Việt Minh dâng cao, ông được chỉ định vào thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, dự hội nghị ngày 9 tháng 3 của Ban Thường vụ Trung ương mở rộng bàn về chủ trương đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền Cách mạng, rồi được cử vào Uỷ ban quân sự Bắc kỳ, trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang ở vùng Châu thổ sông Hồng. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông vẫn tiếp tục là Xứ uỷ viên Bắc Kỳ rồi Thường vụ Xứ ủy (1946), phụ trách các tỉnh duyên hải Bắc Bộ.

Toàn quốc kháng chiến, Lê Thanh Nghị được điều về làm Bí thư Khu uỷ Ba, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Khu, tham gia lãnh đạo các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong những năm kháng chiến. Đầu năm 1948, ông làm Phó Bí thư Liên khu Ba, rồi cuối năm đó được rút lên Việt Bắc giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, rồi cuối năm 1949 lại trở về làm Phó Bí thư Liên khu uỷ khu Ba. Tại đại hội Đảng lần thứ hai (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp làm Bí thư Liên khu uỷ, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Khu 3 và Chính uỷ Bộ tư lệnh Liên khu Ba. Những năm 1953-1954, ông kiêm luôn Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Như vậy, thời kỳ trước Cách mạng, trong Cách mạng và trong Kháng chiến chống Pháp, ông gắn bó với Liên khu Ba và là một trong những lãnh đạo chủ chốt của Đảng ở đây.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cuối năm 1954, ông làm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng và giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (cuối năm 1955). Tháng 10 năm 1956, ông được bầu vào Bộ Chính trị và là Ủy viên Bộ Chính trị liên tiếp 2 Khóa sau đó (3 và 4). Năm 1960, ông là Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp của Chính phủ, kiêm trưởng Ban Công nghiệp Trung ương (1967). Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông phụ trách công tác ngoại giao về việc viện trợ cho Việt Nam.

Từ năm 1974 đến năm 1980, ông tiếp tục làm Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, là Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng (1980). Từ tháng 7 năm 1981 đến tháng 12 năm 1986, ông được Quốc hội bầu làm Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Nhà nước.

Ông mất ngày 16 tháng 8 năm 1989 tại Hà Nội và được chôn cất tại Nghĩa trang Mai Dịch. Tên ông đã được đặt cho các đường phố tại nhiều địa phương trong cả nước như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… Tại Hải Dương quê hương ông, có nhiều trường học mang tên ông, và vào năm 2002, một nhà lưu niệm ông đã được xây dựng trên căn nhà cũ của ông tại làng Thượng Cốc, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc.

Tham khảo: Trang Thông tin Điện tử tỉnh Hải Dương.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #466 vào lúc: 30 Tháng Một, 2012, 04:28:09 AM »


Vũ Đình Liệu (10.8.1918 – 22h 17.6.2005) từng giữ các chức vụ : Tỉnh ủy viên phụ trách Quân sự tỉnh Trà Vinh, Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Ngoài ra, ông còn từng là : Chủ nhiệm Việt Minh huyện Châu Thành, Tỉnh ủy viên tỉnh Trà Vinh kiêm Bí thư Huyện ủy Châu Thành, Ủy viên Thường vụ tỉnh Vĩnh Trà (Vĩnh Long và Trà Vinh), Phó Bí thư Tỉnh ủy bí mật Trà Vinh, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau (Cà Mau và Bạc Liêu), Bí thư Khu ủy Khu 9, Phó Ban Tuyên huấn Trung ương, Bí thư Thành ủy và Chủ tịch Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang (thành phố Cần Thơ và Hậu Giang), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng), Ủy viên Trung ương Đảng Khóa 4, 5.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất,…, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.


Ông sinh ra tại xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình có truyền thống yêu nước, nguyên quán tại xã Khánh Tôn, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, tham gia hoạt động Cách mạng từ tháng 7 năm 1945. Trong quá trình tham gia hoạt động Cách mạng, ông còn có các bí danh là Tú Đình và Tư Bình.

Trước năm 1945, ông từng đỗ tú tài và làm nghề dạy học tại quê. Trong Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền ở quê nhà. Tháng 12 năm 1945, ông gia nhập Quốc gia Tự vệ cuộc (tiền thân của Công an Nam Bộ), rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 10 năm 1946. 3.1946 – 10.1947, Phó Chủ nhiệm, rồi Chủ nhiệm Việt Minh huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ; 10.1947 – 9.1948, Huyện uỷ viên huyện Châu Thành ; 9.1948 – 10.1949, cán bộ Ban Tuyên huấn tỉnh Trà Vinh ; 1950 – 1951, Tỉnh uỷ viên kiêm Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ Trà Vinh phụ trách Quân sự, rồi phụ trách Tuyên huấn ; 1951 – 1952, Tỉnh uỷ viên, Bí thư Huyện uỷ Châu Thành ; 1952 – 1954, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Trà (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh).

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được phân công ở loại hoạt động bí mật tại miền Nam. Từ năm 1954 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Phó Bí thư Tỉnh uỷ bí mật Trà Vinh ; 1957 - 1960, phó Bí thư Tỉnh uỷ, rồi Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau (nay là Cà Mau và Bạc Liêu) ; 1961 – 1975, lần lượt được chỉ định là Liên tỉnh Uỷ viên, rồi Khu uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ Khu uỷ và Bí thư Khu uỷ Khu 9, kiêm Chính uỷ Quân khu.

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông là phó Ban Tuyên huấn Trung ương rồi uỷ viên Thường vụ Thành uỷ, phó Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4, ông được bầu làm Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng trực tiếp làm phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 3 năm 1979 đến tháng 3 năm 1982, ông chuyển xuống làm Bí thư Tỉnh uỷ Hậu Giang (nay là thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 (3.1982), ông tiếp tục được bầu làm uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng), và giữ chức vụ này cho đến khi về hưu tháng 5 năm 1991.

Tên ông đã được đặt cho một trường phổ thông trung học tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, Trường Phổ thông Trung học Vũ Đình Liệu (trước đây là Trưởng Phổ thông Trung học Châu Thành), đồng thời cho một quỹ học bổng khuyến học dành cho sinh viên các tỉnh Trà Vinh và Nam Định.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #467 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2012, 08:04:32 PM »

Liệt sĩ Nguyễn Hùng Phước (1922 ? – 1948), Hùm xám miền Tây, từng giữ các chức vụ : Phụ trách Quân sự trong Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Vĩnh Long trong thời kì Nam Kỳ khởi nghĩa 1940, Khu Bộ phó Khu 9.

Ông sinh năm 1922 tại thành phố Cần Thơ, tham gia hoạt động Cách mạng từ rất sớm, trước năm 1940, tại Bạc Liêu. Tháng 5 năm 1940, ông cùng em trai Nguyễn Hùng Minh được Xứ ủy Nam kì điều vào tham gia chi bộ lãnh đạo của tỉnh lỵ Bạc Liêu làm công tác vận động quần chúng và binh vận, đây cũng là thời kì phong trào Cách mạng gặp khó khăn do bị khủng bố, đàn áp. Một thời gian ngắn, ông cùng em trai lại được điều ra Vĩnh Long, tham gia ban khởi nghĩa, phụ trách quân sự.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ khởi nghĩa nổ ra, tỉnh trưởng Vĩnh Long theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ cho giới nghiêm một số nơi, không cho binh lính bản xứ ra khỏi trại, các cơ quan trọng yếu, nhà tù được tăng cường canh gác, tổ chức nhiều toán tuần tra và chốt các ngả đường xung yếu. Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo Khởi nghĩa Vĩnh Long quyết định chuyển hướng hành động, cử Nguyễn Hùng Phước cùng Nguyễn Hùng Minh chỉ huy lực lượng đột phá lên bến phà Mỹ Thuận tìm cách phá phà, chặn đường tiến quân của Pháp từ Sài Gòn xuống. Trên đường đi, thấy quân Pháp kiểm soát chặt, ông quyết định không tấn công phà Mỹ Thuận mà chuyển sang lộ 7 (nay là quốc lộ 53) đốt phá cầu Ông Me, cầu Long Hồ gây trở ngại giao thông, rồi kéo vào Nhà việc Long Hồ đốt cháy toàn bộ tài liệu sổ sách, cắt dây điện, dựng chướng ngại vật theo đường, rải truyền đơn truyền lệnh Khởi nghĩa. Đêm 23 tháng 11, ông chỉ huy đơn vị đột nhập vào trụ sở tề xã Phước Hậu, Chánh Hội đốt hết sổ sách, thu 2 súng, tổ chức mít tinh mừng thắng lợi.

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, Nguyễn Hùng Phước và em trai bị thực dân Pháp bắt giam, kết án tù và bị đày ra Côn Đảo. Tháng 9 năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, ông cùng đoàn tù khoảng 1700 người được chính quyền Cách mạng đón về đất liền. Tối ngày 23 tháng 9 năm 1945, chiếc ca nô « Giải phóng » do ông cùng em trai đích thân cầm lái chở các ông Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ… do đi chệch hướng về Cồn Nóc, cửa biển Mỹ Thanh, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Ông Tôn Đức Thắng được Xứ ủy điểu về Ủy ban Kháng chiến miền Nam, ông Phan Trọng Tuệ và hai anh em ông được giữ ở lại trong đó ông Phan Trọng Tuệ được cử làm Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 9, ông là Khu bộ phó, em ông được cử phụ trách Công binh xưởng của Khu. Lúc này, ông Huỳnh Phan Hộ là Khu trưởng, một Khu bộ phó khác là Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích.

Cùng với Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Hùng Phước góp phần quan trọng vào việc xây dựng, phát triển, chỉ huy các lựng lượng vũ trang của Khu trong thời kì đầu của Kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, là chỗ dựa vững chắc cho Kháng chiến ở các tỉnh miền Tây, nhất là sau khi tình hình Kháng chiến ở Khu 8 ở khó khăn, bộ chỉ huy và lực lượng chủ chốt ở Khu 8 phải rút xuống Khu 9. Đặc biệt, với tài chỉ huy của mình, ông đã chỉ huy lực lượng xunh kích của Khu 9, với lối đánh táo bạo bất ngờ, khiến cho quân Pháp phải chùn chân. Nhiều trận đánh và một số cán bộ chỉ huy quân sự trong đó có ông đã được nhân dân "huyền thoại hóa" như Khu bộ trưởng Vũ Đức, Khu bộ trưởng Huỳnh Phan Hộ, Khu bộ trưởng Trương Văn Giàu, Trưởng Ban Quân sự tỉnh Bạc Liêu Tào Văn Tỵ, dũng sĩ của Quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Cần Thơ Lê Bình... Bản thân Nguyễn Hùng Phước được quân dân miền Tây gọi là « Hùm xám miền Tây », chi đội xung kích do ông trực tiếp chỉ huy được mệnh danh là « Chi đội Hùm xám », các chiến sĩ của ông được gọi là « Những con Hùm xám ». Năm 1948, chi đội ông là cơ sở để hình thành lên Tiểu đoàn 308 chủ lực của Khu.

Sau khi Khu trưởng Huỳnh Phan Hộ hy sinh, đến lượt Nguyễn Hùng Phước hy sinh vào năm 1948 khi đang trực tiếp chỉ huy một trận đánh. Tên của ông đã được đặt cho một con đường tại thành phố Sóc Trăng.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Hai, 2012, 08:41:27 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #468 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2012, 06:36:49 PM »


Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn, 21.3.1914 – 1.5.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Chủ nhiệm Chính trị bộ (Phó Chính ủy) rồi Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9.

Ngoài ra, ông còn từng là : Tỉnh ủy viên tỉnh Chợ Lớn, Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy viên Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ và Sài Gòn, Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc (Công an) Nam Bộ, Bí thư Khu ủy Khu 9, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng, Vụ trưởng Vụ Thủ tướng, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Ban Tuyên giáo Trung ương, Vụ trưởng Vụ Giáo dục (phổ thông) Ban Khoa giáo Trung ương, Ủy viên Ủy ban Thống nhất Quốc hội. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa 1 đến Khóa 4 ( ?).

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất…


Ông sinh tại ấp 6, làng Tân Nhựt, Chợ Đệm, huyện Bình Chánh, tỉnh Long An, tức quận Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, trong một gia đình địa chủ khá giả. Năm 1927, ông lên Sài Gòn theo học tại Trường Pétrus Ký (giờ là Trường PTTH Lê Hồng Phong) và đỗ tú tài phần nhất năm 1930. Do ảnh hưởng bởi tư tưởng của các cụ Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, ông quyết định thôi học và tham gia vào các hoạt động yêu nước và dân chủ.

Thời gian này, ông bắt đầu đến với làng báo, cộng tác và viết cho các tờ báo tiến bộ tại miền Nam lúc bấy giờ như Chuông rè, Tranh đấu, Vô sản… do các ông như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Dương Bạch Mai… lãnh đạo. Nhờ tiếp xúc với những người cộng sản thuộc cả Quốc tế 3 và 4, ông bắt đầu giác ngộ lí tưởng Cộng sản và dấn thân vào phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, đòi quyền dân tộc, dân chủ và dân sinh.

Có lẽ ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất tới ông thời kì này là hai ông Nguyễn Văn Tạo (1908 – 1970) và Nguyễn Văn Trân (1908 - ?), chính hai ông, những người Cộng sản thuộc Quốc tế 3, là những người dìu dắt ông nghiệp vụ làm báo cũng như tham gia vào các hoạt động Cách mạng do Đảng lãnh đạo. Cả hai ông Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn Văn Trân đều có thời gian dài du học tại Pháp, đều tham gia vào phong trào đấu tranh do Đảng Cộng sản Pháp (ĐCS-P) lãnh đạo, đều là những Đảng viên ĐCS-P.

Ông Nguyễn Văn Tạo từng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương ĐCS-P phụ trách các vấn đề thuộc địa, từng tham gia Đoàn Đại biểu ĐCS-P tham gia Đại hội 6 Quốc tế Cộng sản tại Liên Xô diễn ra từ ngày 7 tháng 7 đến 1 tháng 9 năm 1928. Sau này, ông từng là Đại biểu Quốc hội từ Khóa 1 đến Khóa 3 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) và là Trưởng Ban Thống nhất Quốc hội.

Còn ông Nguyễn Văn Trân từng được cử vào Đoàn Đại biểu ĐCS-P tham dự lễ kỉ niệm 10 Cách mạng tháng 10, có vinh dự có mặt trong bàn chủ tịch và được yêu cầu giới thiệu về Việt Nam trước toàn thể đại biểu nhiều nước. Ông có thời gian theo học tại Trường Phương Đông của Quốc tế Cộng sản tại Mátx-cơ-va cùng khóa với nhiều tên tuổi của Cách mạng Việt Nam như các ông Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Ông từng phụ trách nhóm giang hồ Bình Xuyên của thầy nghề võ Nguyễn Văn Mạnh (Tám Mạnh) đưa nhóm này tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa và Nam Bộ kháng chiến, và sau Cách mạng từng giữ chức Chủ tịch tỉnh Chợ Lớn.

Nguyễn Văn Trấn tìm gặp Nguyễn Văn Trân vào khoảng năm 1933 để xin bồi dưỡng về chính trị. Lúc này, ông Trân, đã được Quốc tế Cộng sản phái về nước hoạt động từ mùa hè năm 1930, đang bị thực dân Pháp cầm cố tại gia, ngoài mặt thì cùng ông Nguyễn An Ninh đi bán dầu cù là, thực chất vẫn âm thầm hoạt động, tham gia đào tạo cán bộ cho Xứ ủy Nam kỳ và giúp đỡ ông Nguyễn Văn Tạo vừa chân ướt chân ráo về nước, chưa có chỗ đứng. Nhân dịp này, ông Nguyễn Văn Trân cũng giới thiệu Nguyễn Văn Trấn với ông Tạo để dìu dắt trở thành nhà báo tài năng. Ngờ đâu, ông Tạo với ông lại là họ hàng xa. Sau đó, được sự giới thiệu của hai ông Trân và Tạo, Nguyễn Văn Trấn qua Liên Xô và được nhận vào học tại Trường Đại học Phương Đông, rồi về nước vào khoảng đầu năm 1935, đúng vào thời kỳ của Mặt trận Dân chủ và Đông Dương đại hội.

Về nước, Nguyễn Văn Trấn tiếp tục viết cho các báo công khai do Đảng lãnh đạo trong Mặt trận Dân chủ như Tiền Phong (ra đời tháng 5 năm 1937) do ông Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo, Dân chúng do ông Dương Bạch Mai làm chủ nhiệm. Đặc biệt, ngày 22 tháng 7 năm 1938, Đảng lại xuất bản thêm tờ Dân chúng tiếng Việt với sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, tuy lấy danh nghĩa là “cơ quan lao động và quần chúng” nhưng thực chất đây tờ báo của Trung ương Đảng. Ông tham gia biên soạn tờ báo này cùng các ông bà Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Thị Lựu…, và là một trong những người tích cực đem báo chí của Đảng, nhất là tờ Dân chúng về phổ biến ở tỉnh Chợ Lớn.

Giai đoạn 1936 – 1939, cũng là giai đoạn Đảng tranh thủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền đẩy mạnh việc khôi phục, phát triển lực lượng vốn bị thiệt hại nằng nề sau cao trào 1930 – 1931. Những đảng viên trẻ trí thức trưởng thành từ quần chúng cảm tình giai đọan 1930 – 1931, có trình độ và năng lực như Nguyễn Văn Trấn trở thành những vốn quý. Bên cạnh việc đấu tranh trên mặt trận báo chí công khai, ông còn tham gia vào việc lãnh đạo phong trào, tham gia vào Tỉnh ủy Chợ Lớn. Vì chưa bị lộ, lúc này, ông hoạt động công khai. Gia đình ông ở Chợ Đệm trở thành nơi qua lại, chỗ hội họp của các lãnh đạo Tỉnh ủy, rồi sau này là Xứ ủy Nam Kỳ.

Đặc biệt, tháng 8 năm 1936, tại nhà ông diễn ra cuộc họp quan trọng của Tỉnh ủy Chợ Lớn, có tính quyết định đối với phong trào Cách mạng của tỉnh trong thời kỳ mới. Buổi họp có mặt các ông Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Văn Tiếp, Trương Văn Bang, Trương Văn Nhâm, Trương Văn Khải, Trần Chí Nam, Chung Văn Năm, Nguyễn Thị Một… bàn và thành lập Ủy ban hành động của tỉnh do ông Nguyễn Văn Trân, ủy viên Ủy ban Hành động Trung ương kiêm nhiệm Chủ tịch, các ủy viên: Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Tuôi, Trần Chí Nam, Một Thế, Bảy Vồ, Lê Văn Ngà, Chung Văn Năm, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Tốt,..., và ông.

Đến đây xin nói thêm, báo Dân chúng thời kỳ đó đã làm một cuộc Cách mạng báo chí là không xin phép nhà cầm quyền Pháp. Ðây là vấn đề pháp lý rất tinh tế. Luật báo chí bên Pháp quy định không cần phải xin phép. Báo mới ra chỉ cần nạp bản và lo đủ thủ tục như trình báo rõ tên báo, tên người quán lý cùng địa chỉ. Nhưng chính quyền thực dân cầm quyền sợ dân thuộc địa hưởng quyền tự do báo chí như dân bên nước mình nên họ ra sắc lệnh phải xin phép mới được in báo. Luật sư nổi tiếng Phan Văn Trường từng hành nghề mấy chục năm ở Pháp gợi ý cứ việc ra báo mà không cần xin phép vì theo tinh thần luật pháp thì một sắc lệnh của Toàn quyền Ðông Dương không thể qua mặt được một đạo luật do Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất của Pháp vạch ra.

(còn nữa)
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Thành viên
*
Bài viết: 774



« Trả lời #469 vào lúc: 08 Tháng Hai, 2012, 12:31:39 AM »

(tiếp theo và hết)

Lo ngại ảnh hưởng của tờ Dân chúng, ngày 7 tháng 3 năm 1939, mật thám Pháp ập vào khám xét tòa soạn. Mặc dù không tìm ra chứng cứ phạm pháp nào, mật thám cũng bắt ông cùng với những thành viên cốt cán khác như Nguyễn Văn Kỉnh, Trần Văn Kiết… Trong phiên tòa xét xử ông cùng các đồng chí của mình đã cho người dân Sài Gòn thấy và bị chinh phục thái độ đường hoàng, hiên ngang, tự bào chữa bằng lập luận đanh thép, dõng dạc bác bỏ từng lời buộc tội trong bản cáo trạng của viên biện lý người Pháp. Tuy nhiên, các ông vẫn bị kết án, ông cùng ông Nguyễn Văn Kỉnh bị giam một thời gian ngắn rồi thả, riêng ông Trần Văn Kiết bị đưa lên khám lớn ở Sài Gòn giam rồi lại tiếp tục bị đưa tới căng Tà Lài (9.1939).

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Nam Kỳ Khởi nghĩa nổ ra. Ở Trung Quận, Chợ Lớn, trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, nhiều lãnh đạo Quận ủy bị bắt, bị lộ. Với vị trí là “quận châu thành” duy nhất của Chợ Lớn, có đường huyết mạch nối thẳng vào thành phố, ngoài nhiệm vụ khởi nghĩa tại chỗ, Xứ ủy chỉ đạo phải đưa 200 quân vào thành phố, phối hợp với 300 quân của Bà Điểm – Hóc Môn đánh Khám Lớn (lực lượng Trung Quận) và chiếm khu Tòa án (lực lượng Hóc Môn – Bà Điểm). Nguyễn Văn Trấn được Tỉnh ủy và Xứ ủy cử về trực tiếp lãnh đạo cùng với các ông Dương Công Nữ, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Văn Nhâm, Nguyễn Văn Hoành, Lê Công Phép, Nguyễn Văn Thép …

Khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại và bị đàn áp dã man, lại thêm Nhật tiến sát biên giới Việt Trung tiến quân vào Đông Dương, do đó Pháp tăng cường truy quét các phần tử nguy hiểm cho an ninh trật tự của người Pháp. Những người ghi tên vào sổ đen đều bị bắt, trước nhất là những người làm chính trị, đặc biệt là Cộng sản. Kế đến là các giáo phái làm chính trị như Cao Ðài, Hòa Hảo. Sau cùng tới các tay du đãng, giang hồ. Trước tình hình này, Nguyễn Văn Trấn phải tạm lánh về vùng rừng miền Đông Nam bộ, đó là khu vực Bến Tranh, Dầu Tiếng. Tại đây, ông gặp và kết giao thân thiết với hai tay giang hồ vừa mới từ Côn Đảo về lẩn trốn, đó là Bảy Viễn và Mười Trí, những thủ lĩnh của Bình Xuyên sau này. Người dân Bến Tranh không biết ba ông là ai, chỉ quen gọi họ lần lượt là thầy Năm Dầu Tiếng, thầy Tư Hoảnh-xăng và ông Năm Mắm. Chính nhờ mối thân giao này, sau này, tháng 5 năm 1948, ông được Tư lệnh Nguyễn Bình giao cho công việc thuyết khách Bảy Viễn, khuyên Bảy Viễn về Nam Bộ nhận chức Khu bộ trưởng Khu 7 mà không theo Tây. Và cũng theo Bảy Viễn thì chính Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Văn Trân và Trần Văn Giàu là những người có tác động lớn khiến ông này và Mười Trí đi theo Cách mạng.

Sau vụ Bảy Viễn và Mười Trí gây ra vụ cướp táo bạo bằng ô-tô chủ Sở Cao su Dầu Tiếng gần ngân hàng ngay Sài Gòn mà giới báo trí thời bấy giờ cho rằng giống như đánh cướp phóng xe kiểu Hoa Kỳ, mật thám Pháp dò ra tung tích của hai người này. Mười Trí nhanh chân trốn được về Sài Gòn, Bảy Viễn và Nguyễn Văn Trấn bơi qua sông trốn. Tuy nhiên, không cần mất nhiều thời gian, mật thám bắt được Bảy Viễn và Mười Trí, mặc dù không liên quan gì đến vụ cướp, tuy nhiên do sợ bị lộ, ông tiếp tục chạy về vùng rừng núi Nam Trung bộ, khu vực núi Laba, động Bàn Tiên, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tạm lánh.

Tại khu vực động Bàn Tiên, ông cùng với hai người Cộng sản lánh nạn khác gặp gỡ lập lên một nhóm 3 người, mà ông là Tam ca, dưới vỏ bọc một « đạo » để che mắt mật thám Pháp, chờ thời. Hai người Cộng sản kia là Đại ca Hành (nổi tiếng với biệt tài bắn súng), Nhị ca Tươi. Sau này, họ đều trở thành những lãnh đạo cốt cán của lực lượng an ninh, vũ trang Sài Gòn, Chợ Lớn trong và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

Năm 1944, tình hình tạm yên, Nguyễn Văn Trấn trở về Chợ Lớn tìm cách móc nối với tổ chức Đảng để tiếp tục hoạt động. Đây là thời kì Chiến tranh Thế giới lần thứ 2 sắp kết thúc, Đảng chủ trương đẩy mạnh khôi phục và phát triển lực lượng bị tổn thất nằng nề sau sự kiện 1940, chuẩn bị sẵn sàng tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Ông gặp Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu và được bổ sung vào Xứ ủy là Xứ ủy viên phụ trách các tỉnh miền Đông và một số trọng điểm tại Sài Gòn – Chợ Lớn đồng thời tiếp tục là Tỉnh ủy viên Chợ Lớn. Bên cạnh đó, ông cùng với ông Trần Văn Giầu là những người tiên phong của Xứ ủy nhận trách nhiệm trí vận, và góp phần đáng kể vào sự thành công vận động tầng lớp trí thức Nam Bộ ủng hộ và tham gia Cách mạng giành độc lập dân tộc. Theo Hồi ký Trần Văn Giầu là trong Xứ ủy lúc đó, chỉ có hai ông là tự tin và « dám » tiếp xúc với giới trí thức.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (3.9.1945), tình hình Cách mạng diễn ra hết sức khẩn trương và mau lẹ. Nguyễn Văn Trấn được phân công vào Xứ ủy tiền phong chỉ đạo khởi nghĩa, đặc biệt là Sài Gòn – Chợ Lớn và các khu vực lân cận. Ngày 15 tháng 8, Xứ ủy quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa mà đại diện có cả những Đảng viên và trí thức, thanh niên. Ông và ông Trần Văn Giàu cũng được phân công vào Ủy ban này đại diện cho những người Cộng sản. Từ ngày 16 đến ngày 22, trong vòng chưa đầy một tuần, Xứ ủy tiến hành ba cuộc họp lịch sử tại Chợ Đệm, tại và gần nhà ông, để bàn về thời điểm cũng như kế hoạch khởi nghĩa. Về sau, những người nghiên cứu lịch sử vận gọi đây là ba lần hội nghị chợ Đệm, vào các ngày 16, 20 và 22 tháng 8, và cả ba đều do Nguyễn Văn Trấn lo liệu. Bên cạnh đó, ông còn được Xứ ủy phân công về Chợ Lơn, phối hợp với Tỉnh ủy chỉ đạo chuẩn bị sẵn sàng đưa quần chúng và lực lượng vũ trang vào Sài Gòn hỗ trợ cho lực lượng tại chỗ.

Sau khi Khởi nghĩa giành chính quyền thành công tại Sài Gòn, ngày 26 tháng 8 năm 1945, Quốc gia tự vệ cuộc (tiền thân của Công an Nam Bộ) được thành lập trực thuộc Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ. Nguyễn Văn Trấn lúc ấy đang là thành viên của Ủy ban được chỉ định làm Giám đốc, đảm trách nhiệm tổ chức và xây dựng lực lượng này từ người bên Tổng Công đoàn. Tham gia lãnh đạo và xây dựng lực lượng Công an Nam Bộ khi ấy còn có Đại ca Hành và Nhị ca Tươi của ông.

Ngày 1 tháng 6 năm 1946, cả nước đi bầu Quốc hội Khóa 1 của nước Việt  Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Văn Trấn trúng cử Đại biểu Quốc hội khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn. Cùng năm này, khi Bộ Tư lệnh Khu 9 được thành lập do ông Huỳnh Phan Hộ là Khu trưởng, ông Phan Trọng Tuệ làm Chủ nhiệm Chính trị bộ (Chính ủy), ông được cử xuống miền Tây làm Phó Chủ nhiệm Chính trị bộ. Ngày 26 tháng 5 năm 1948, Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ họp hội nghị lịch sử tại Nhơn Hòa, Hòa Lập có đầy đủ ban Thường vụ gồm các ông Phạm Ngọc Thuần, Nguyễn Bình, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Thành Vĩnh, Kha Vạn Cân, Lê Quẩn, Diệp Ba, Lê Ðình Chi, Trịnh Ðình Trọng, Phan Văn Chương, và đại diện Bình Xuyên Lê Văn Viễn (Bảy Viễn), Huỳnh Văn Trí (Mười Trí), Trần Văn Ðối, Nguyễn Văn Hoạnh. Ông và Khu phó Khu 7 Huỳnh Văn Nghệ cũng được mời dự, riêng ông với ông Diệp Ba được chỉ định làm thư ký. Hội nghị đề bạt Bảy Viễn làm Khu bộ trưởng Khu 7 và kéo ông về làm Chủ nhiệm Chính trị bộ Khu 7. Tuy nhiên, ông đã từ chối và sau đó có vụ việc Bảy Viễn nhập thành theo Tây. Thời gian ở Khu 9, ông tiếp tục tham gia viết báo và lãnh đạo báo chí Khu.  

Khoảng cuối năm 1948, khi ông Phan Trọng Tuệ về Sài Gòn – Chợ Lớn nhận nhiệm vụ mới, Nguyễn Văn Trấn lên làm Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9. Năm 1950, ông là một trong những đại diện của Xứ ủy Nam Bộ lên đường ra Bắc dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 lịch sử. Sau Đại hội, ông được giữ lại công tác tại Trung ương làm Phó Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông là Vụ trưởng thuộc Phủ Thủ tướng, chuyển sang công tác giảng dạy tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc một thời gian, rồi lên Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng giữ chức Vụ trưởng Vụ trưởngVụ Giáo dục. Ngày 15 tháng 2 năm 1968, Ban Tuyên giáo Trung ương chính thức chia Ban, phân công 16 cán bộ chuyển sang làm việc ở Ban Khoa giáo Trung ương, trong đó có ông giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Giáo dục (phổ thông) Ban Khoa giáo Trung ương. Ngày 30 tháng 4 năm 1963, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 2, Ủy ban Thống nhất Quốc hội được thành lập, Nguyễn Văn Trấn được bầu làm thành viên của Ủy ban này cho đến năm 1974. Thời gian ở miền Bắc, ông tiếp tục là Đại biểu Quốc hội của tỉnh Sài Gòn – Chợ Lớn. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông chuyển vào Nam sinh sống tại quê nhà.

Sau khi về hưu, Nguyễn Văn Trấn cộng tác với nhiều báo, tiếp tục viết bài, đồng thời viết nhiều sách khảo cứu, tự thuật. Có thể kể đây một số tác phẩm của ông như : Chúng tôi làm báo (1977), Chợ Đệm quê tôi (1985), Chuyện trong vườn Lý (1988), Lô-gíc vui (Nhà xuất bản Sự thật 1992), Trương Vĩnh Ký, con người và sự thật (1994). Khi Báo tuổi trẻ cười ra đời, theo gợi ý của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt ông được mời làm cố vấn bởi ông có một thời gian viết báo châm biếm thực dân Pháp ở Khu 9. Chính ông là người nghĩ ra nhân vật Hai Cù Nèo, và định ra phong cách cho nhân vật này. Mặc dù sau này nhân vật Hai Cù Nèo còn do nhiều người khác viết, nhưng tất cả mọi người đều cố bám theo phong cách cũng như cách hành văn của ông.
Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM