panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:03:37 AM » |
|
Trung tướng Lê Văn Tưởng (Lê Chân, Hai Chân, Hai Lê, 10.1919 - 15h45’ 25.7.2007), nguyên Phó Ban kiểm tra Quân ủy Trung ương Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân khu 9, nguyên Chính ủy Cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nguyên Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Chính ủy Sư đoàn 9.
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc và nhiều huân huy chương khác.
Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984).Trung tướng Lê Văn Tưởng sinh tháng 10 năm 1919 tại xã Thạnh Lợi, huyện Thủ Thừa, tỉnh Tân An, nay là huyện Bến Lức tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo có truyền thống yêu nước. Ông nội ông là nghĩa quân Thiên Địa Hội từ trước năm 1930. Cha ông tham gia hội kín của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, về sau gia nhập Đảng Cộng sản. Gia đình không có ruộng. Cha ông liên tục vào tù ra khám. Nhà tới chín người con, là con đầu ông phải sớm lăn lộn cuốc mướn làm thuê, vào rừng hái củi về đổi gạo, phụ giúp mẹ nuôi các em. Truyền thống yêu nước của gia đình cùng những cảnh bất công do cường hào gây ra ở miền sông nước đã nhen nhóm trong lòng Lê Văn Tưởng sự căm hờn và hoài bão phải làm điều gì đó cho người dân nghèo quê hương. Mười bảy tuổi, ông được giác ngộ và làm liên lạc cho cách mạng trong phong trào Đông Dương đại hội. Nhờ sức vóc vạm vỡ và tính khí can trường, ông nhanh chóng chiếm được niềm tin của những bậc cha chú đi trước và được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Năm 1938, tại một cuộc biểu tình đấu tranh ở Tân An trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, ông bị thực dân Pháp bắt giam sáu tháng ở khám Mỹ Tho. Ra tù về lại quê tiếp tục hoạt động bí mật trong phong trào Nông hội đỏ, ông tham gia chỉ huy quân sự xã, tháng 6 năm 1940 ông chính thức đuợc kết nạp Đảng Cộng sản. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ. Ông là thành viên nòng cốt đội du kích xã Thạnh Lợi cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền. Giống như tình hình chung ở toàn Nam Kỳ, cuộc khởi nghĩa ở xã Thạnh Lợi biểu thị được lòng yêu nước, gây tiếng vang, nhưng rồi nhanh chóng bị thực dân Pháp đàn áp. Càng ngày chúng càng bao vây, lùng sục, khủng bố dã man. Nhiều chiến sĩ bị bắt thủ tiêu. Nhà của Lê Văn Tưởng cùng mấy chục căn nhà khác ở Thạnh Lợi bị đốt cháy trụi. Gia đình phải bỏ trốn đi nơi khác làm ăn sinh sống. Cả Nam Kỳ chìm trong máu lửa của khủng bố trắng. Ông cùng một số chiến sĩ cộng sản rút vào bưng biền củng cố và xây dựng lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Khoảng một tháng sau, đội du kích Thạnh Lợi do ông chỉ huy tổ chức tấn công đồn điền mía Hiệp Hòa ở xã Hòa Khánh, huyện Đức Hòa. Trận công đồn bất ngờ này đã gây tiếng vang lớn cả vùng, du kích đã thu đuợc một khẩu súng ngắn 6,35 ly của tên đồn trưởng. Đây là khẩu súng sản xuất ở Tiệp Khắc do tên đồn trưởng lê dương lấy được trong Chiến tranh thế giới thứ nhất khi sang chiến trường Đông Âu. Ông được đội du kích xã Thạnh Lợi giao sử dụng khẩu súng 6,35 ly chiến lợi phẩm. Đầu năm 1941, trong một lần ông cùng đội võ trang từ bưng biền về xã Thạnh Lợi công tác, bất ngờ bị tên Hương quản Chánh cùng Hương tuần Tám tấn công. Hương quản Chánh là tên tay sai có nhiều nợ máu ở địa phương sau khi khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Chính tay ông đã dùng khẩu súng 6,35 ly cướp được ở Hiệp Hòa bắn chết Hương quản Chánh. Sau đó, do một du kích quân đầu hàng địch khai báo về cái chết của Hương quản Chánh, Tòa Áo đỏ (tòa đại hình) của chính quyền thực dân Pháp ở Sài Gòn đã kết án ông "tử hình khiếm diện". Tháng 4 năm 1945, ông tham gia công tác xây dựng cơ sở huyện Thủ Thừa. Trong Cách mạng Tháng Tám, ông được phân công lãnh đạo khởi nghĩa ở huyện Thủ Thừa. Sau đó, với tư cách ủy viên quân sự huyện, ông thành lập lực lượng dân quân cách mạng, trang bị bằng vũ khí thu được từ các đồn bót giặc. Đây là lực lượng dân quân cách mạng duy nhất ở tỉnh Tân An sau cách mạng. Quân Pháp núp bóng quân đồng minh tái xâm lược, Nam bộ kháng chiến, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Tân An, tiếp tục tổ chức chỉ huy bộ đội chiến đấu. Tháng 12 năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Tân An và là Chỉ huy trưởng bộ đội liên quân Chợ Lớn-Tân An. Đầu năm 1946, hai lần thủ lĩnh du kích quân Lê Văn Tưởng đón tiếp Trần Văn Trà - Chính trị viên Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa từ Gia Định xuống Tân An tìm cách thành lập Chi đội 14, rồi xây dựng căn cứ địa Đồng Tháp Mười. Cuộc gặp gỡ này cũng chính là mối duyên kỳ ngộ mở đầu cho tình bạn chiến đấu keo sơn giữa hai vị tướng Tư Chi - Trần Văn Trà và Hai Chân -Lê Văn Tưởng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Lúc Chi đội 14 mới hình thành, ông Trần Văn Trà làm chi đội trưởng, Lê Văn Tưởng và ông Nguyễn Văn Siêu làm chi đội phó, ông Nguyễn Đức Huy làm chính trị viên. Năm 1949, sau khi ông Trần Văn Trà được Trung ương cử làm Khu bộ trưởng Khu 8, Chi đội 14 chuyển thành Trung đoàn 120. Ông Nguyễn Công Trung, nguyên bí thư Xứ ủy Nam Kỳ được điều về làm trung đoàn trưởng, ông Lê Quốc Sản làm trung đoàn phó, ông làm trưởng ban tác chiến. Trung đoàn 120 đã tổ chức đánh địch nhiều trận và giành nhiều thắng lợi ở Tân An, Mỹ Tho, Gò Công,... Sau đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 358, Liên trung đoàn 120-105, Phó Bí thư liên Liên chi và Trung đoàn ủy viên. Từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 9 năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Tân An, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Đồng Tháp, Huyện đội trưởng Huyện đội Mộc Hóa, Chính trị viên Tiểu đoàn rồi Trung đoàn Mỹ Tho, Trung đoàn Ủy viên. Sau đó, ông giữ chức vụ Trưởng ban tổ chức Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Cho đến năm 1954, Hiệp định Genève ký kết, chuyển quân ra Bắc, tháng 10/1955, ông làm chính ủy Trung đoàn 556 thuộc Sư đoàn 330, Bí thư Trung đoàn ủy rồi sau đó là chủ nhiệm chính trị sư đoàn. Tháng 3 năm 1957, ông theo học trường Nguyễn Ái Quốc. Năm 1960, ông là Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 330, Thường vụ Phó bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Ngày 7 tháng 5 năm 1961, ông được Quân ủy Trung ương phân công trở về Nam chiến đấu. Đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông Trần Nam Trung làm chính ủy, ông làm phó chính ủy và các phó trưởng đoàn là các ông: Trần Đình Xu, Đào Sơn Tây, Nguyễn Vọng, Trần Hoài Pho đã bí mật vượt Trường Sơn, sau ba tháng về đến Mã Đà thuộc Chiến khu Đ. Ông được cử làm Chủ nhiệm chính trị Ban chỉ huy Quân sự miền. Trong thời gian này, ông là Chính ủy Mặt trận Bình Giã rồi Phó Chính ủy Chiến dịch Đồng Soài. Sau thắng lợi của hai chiến dịch Bình Giã cuối năm 1964 (?) và Phước Long- Đồng Xoài giữa năm 1965, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định xây dựng quả đấm chủ lực cho các lực lượng võ trang để đối phó với quân Mỹ - Ngụy. Sư đoàn 9 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của B2 ra đời vào ngày Quốc khánh 2 tháng 9 năm 1965 bên bờ suối Nhung thuộc địa phận Phước Thành với sự tham dự của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ- Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh- bí thư Trung ương Cục kiêm chính ủy Miền, Trung tướng Trần Văn Trà- tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Sư đoàn 9 trên cơ sở ba trung đoàn, do Hoàng Cầm làm sư đoàn trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, Nguyễn Hòa làm sư đoàn phó, Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, Nguyễn Thế Bôn làm tham mưu trưởng. Cuối tháng 9 năm 1965, Sư đoàn 9 triển khai phương án tấn công Dầu Tiếng, một vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam bộ. Tư lệnh Trần Văn Trà đích thân xuống tận sở chỉ huy sư đoàn giao nhiệm vụ và bàn bạc cụ thể cả phương án hai đánh Mỹ- đối tượng tác chiến mới trên chiến trường Đông Nam bộ vừa triển khai ba lực lượng lớn. Đó là Sư đoàn bộ binh số 1 mang biệt danh "Anh cả đỏ" đóng ở căn cứ Lai Khê thuộc tỉnh Bình Dương, với 17.530 quân, phiên chế thành ba lữ đoàn, năm tiểu đoàn pháo binh 105 và 155 ly, một tiểu đoàn và hai đại đội không quân cơ động. Tiếp đến là Sư đoàn bộ binh cơ giới số 25 biệt danh "Tia chớp nhiệt đới" đóng tại căn cứ Đồng Dù thuộc đất Thép Củ Chi, gồm 17.666 quân phiên chế thành mười hai tiểu đoàn bộ binh cơ giới, ba tiểu đoàn thiết giáp, sáu tiểu đoàn pháo 105 và 155 ly, một tiểu đoàn không quân và nhiều đơn vị hậu cần. Thứ ba là Lữ đoàn dù 173 (cơ động bằng máy bay lên thẳng) đóng ở Biên Hòa, gồm 4.313 quân phiên chế thành bốn tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo 105 ly. Chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng là trường hợp hiếm hoi, khi một chiến dịch phải chuẩn bị song song hai phương án chiến đấu với hai đối tượng là quân Mỹ và lính ngụy Sài Gòn. Trong lúc Sư đoàn 9 triển khai kế hoạch đánh Dầu Tiếng, thì Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam là tướng Westmoreland đã ra lệnh cho Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" đang đóng tại căn cứ Lai Khê gấp rút mở cuộc hành quân vào Dầu Tiếng để giải tỏa cho quân ngụy ở đây đang bị quân giải phóng uy hiếp, đồng thời "tìm diệt" bộ đội chủ lực là Sư đoàn 9 mà chúng phát hiện đang đứng chân khu vực phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn. Quân Mỹ có hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 1, được tăng cường thêm hai tiểu đoàn xe tăng và thiết giáp, một đại đội pháo hành quân từ Lai Khê lên đóng thành hai cụm ở Đồng Sổ và Bầu Bàng. Để giữ thế chủ động, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 quyết định tiến hành phương án hai đánh Mỹ ở Bầu Bàng. Sở Chỉ huy sư đoàn dời về suối Đòn Gánh để tiếp cận trận địa. 5 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 1 nổ súng phát hiệu lệnh tấn công. Bộ binh địch bị bất ngờ, co cụm chống trả, phi pháo bắn ra như mưa. Máy bay B.52 đến rải bom dọc đường 13 để dọn đường cho bộ binh vào Dầu Tiếng. Cuộc chiến diễn ra ác liệt kết thúc vào khoảng gần 9 giờ sáng. Lần đầu quân Mỹ bị thiệt hại khá nặng, với hai tiểu đoàn, hai chi đoàn thiết xa vận, gồm 2.000 quân bị loại khỏi vòng chiến, 8 khẩu pháo cùng 39 xe mà phần lớn là tăng và thiết giáp bị phá hủy. Tuy nhiên, phía quân giải phóng cũng tổn thất khá lớn với hơn 100 chiến sĩ hy sinh và gần 200 người bị thương để giành lấy chiến thắng rất có ý nghĩa trong buổi đầu đánh Mỹ, rút ra được nhiều bài học quí báu cho cuộc chiến đấu gian khổ lâu dài. Sau trận đánh này, Sư đoàn 9 anh hùng đã được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất. Sau trận mở màn bằng thắng lợi của chiến dịch Bầu Bàng- Dầu Tiếng, Sư đoàn 9 do Sư trưởng Hoàng Cầm và Chính ủy Lê Văn Tưởng chỉ huy tiếp tục lập nhiều chiến tích qua các trận đánh lẫy lừng: Nhà Đỏ- Bông Trang, Cần Đâm, Cần Lê... và đặc biệt là chống trả cuộc hành quân lớn Junction City của quân Mỹ và chư hầu. Từ tháng 2 năm 1966, theo chỉ thị của Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy tiền phương thống nhất được thành lập làm nhiệm vụ chỉ huy ba thứ quân chiến đấu ở phía bắc Sài Gòn, bảo vệ an toàn Chiến khu Đ nơi có cơ quan đầu não của ta cùng nhiều kho tàng chiến lược. Hoàng Cầm được cử làm chỉ huy trưởng, Lê Văn Tưởng làm chính ủy, ông Nguyễn Hồng Lâm làm chỉ huy phó, ông Hoàng Thế Thiện làm phó chính ủy, với lực lượng gồm Sư đoàn 9, Tiểu đoàn Phú Lợi, các đơn vị vũ trang tập trung và du kích cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông. Liền ngay sau đó, vào tháng 3 năm 1966, tướng Mỹ Westmoreland lại mở cuộc hành quân mang tên "Thành phố bạc" nhắm đánh phá càn quét vùng đất thánh Chiến khu Đ, với lực lượng huy động gồm Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1- "Anh cả đỏ" và một tiểu đoàn quân Úc. Trước sự chủ động chống trả của quân giải phóng, mà chủ lực là Sư đoàn 9 với các trận tập kích ở sở cao su Phú Lương, dốc Bà Thức trên đường 16 và ở Bầu Sắn, quân Mỹ cũng đã bị nhiều thiệt hại, trong đó có năm máy bay lên thẳng bị bắn rơi... Khi Sư đoàn 9 được điều lên mở chiến dịch Lộc Ninh thì Sư trưởng Hoàng Cầm được rút về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền. Chính ủy Lê Văn Tưởng và Tham mưu phó Tạ Minh Khâm được giao trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Nhiệm vụ hoàn thành, Lê Văn Tưởng được điều động về làm thường trực Quân ủy Miền, chủ nhiệm chính trị, phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền chỉ huy phối hợp toàn chiến trường. Từ năm 1967 đến năm 1970, ông lần lượt giữ các chức vụ Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh miền, Ủy viên quân ủy miền kiêm Bí thư, Chính ủy Khu Đông Bắc, Bí thư kiêm Chính ủy Chiến dịch Chen-La 2. Tháng 9 năm 1972, ông là Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 4 năm 1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh quyết định cử tướng Lê Văn Tưởng làm chính ủy và tướng Lê Đức Anh làm tư lệnh cùng sát cánh bên nhau chỉ huy thống nhất hai cánh quân hướng tây và nam tiến vào giải phóng Sài Gòn, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước... Tháng 5 năm 1976, ông được cử làm Chính ủy Quân khu 9, Phó Bí thư Quân ủy. Từ tháng 5 năm 1978, ông là Phó trưởng ban Kiểm tra quân sự Trung ương. Tháng 5 năm 1984, ông là Ủy viên chuyên trách Ủy ban kiểm tra Đảng thuộc Tổng cục chính trị. Tháng 1 năm 1986,ông là Ủy viên thường trực Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân sự Trung ương đến tháng 11 năm 1987 thì ông về hưu. Từ một du kích quân tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa, bị địch kết án tử hình vắng mặt, Lê Văn Tưởng đã trở thành một vị tướng chiến trường dày dạn trận mạc, từng giữ nhiều trọng trách: chính ủy Sư đoàn 9, phó chính ủy kiêm chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, chính ủy cánh quân Tây Nam trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chính ủy Quân khu 9, phó Ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương,... Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cùng nhiều huân huy chương công trạng. Cuộc đời gian lao và sôi động của lão tướng Lê Văn Tưởng là một trong những hình ảnh điển hình nhất cho người nông dân Nam bộ yêu nước thế kỷ XX khi Tổ quốc còn chìm đắm trong bóng đen ngoại xâm.Tham khảo: Báo điện tử Cần Thơ, Báo Nhân dân.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:09:17 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:06:26 AM » |
|
Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao.
Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia.
Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội), Thượng tướng (1958), Đại tướng (1974) ""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974. Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga. Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức). Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành. Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học... Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội. Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội. Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an. Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát. Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức. Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương. Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc). Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp. Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi. Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3. 3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng . Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên. Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La. Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng. Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái). Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ. Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam. Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh; Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị; Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam; Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp); Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"... Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội. Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự.
Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.
Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Báo Tiền phong.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:10:05 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:08:55 AM » |
|
Thượng tướng, Giáo sư Khoa học Quân sự, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Minh Thảo (25/10/1921-08/09/2008), nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng Việt Nam), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng, nguyên Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên.
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều huân huy chương cao quý khác. Đặc biệt ông được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình về Nghệ thuật quân sự.
Đại tá (1948), Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1984)Mọi người đều ấn tượng với hình ảnh của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhất là ở cặp lông mày rậm và xếch ngược lên trên rất hiếm gặp. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tên thật là Tạ Thái An, quê tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (vốn là vùng đất Đăng Châu, Vĩnh Động, Kim Thi xưa). Đây là vùng đất nghèo nhưng giàu truyền thống, là nơi xuất thân của 8 vị tướng lĩnh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trong đó có những vị thuộc hàng công thần dựng nước như Đại tướng Nguyễn Quyết, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên… Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ông phải ra vùng Hòn Gai, Quảng Ninh làm nghề thợ may. Và vùng đất Mỏ là nơi chôn nhau cắt rốn của cậu bé Tạ Thái An. Đầu năm 1930, các đồng chí Quốc dân Đảng tại Quảng Ninh của cha ông bị đàn áp, bắt bớ nhiều. Cha ông đành phải bỏ Hòn Gai đến Lạng Sơn tá túc, còn ông phải theo mẹ về quê. Để nuôi con, mẹ ông hàng ngày cứ sớm tinh mơ là quảy quang gánh đến các vườn rau, mua cất rồi đem đi các chợ bán vất vả, toan lo kiếm miếng cơm. Được vài năm, khi cha ông đã ổn định, Tạ Thái An lên Thất Khê sống với cha và được đi học lại, 10 tuổi ông mới chính thức đi học lại lớp một. Sau khi hoàn thành lớp nhất (tương đương với lớp 5 hiện nay), Tạ Thái An được cha gửi xuống Hà Nội ở nhờ một người quen ở 29 Hàng Bồ để học tiếp trung học Trường Thăng Long. Cũng trong quãng thời gian này, trong những lần về Lạng Sơn nghỉ hè, ông giác ngộ cách mạng qua những đợt tham gia buổi tuyên truyền của Đảng. Năm 1937, Tạ Thái An được xếp vào danh sách cảm tình Đảng tại cơ sở Đảng ở Lạng Sơn và tham gia Đoàn thanh niên dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức. Hồi đó, ông lấy bí danh hoạt động là Tạ Quang, còn cái tên Hoàng Minh Thảo thì mãi đến năm 1945 mới ra đời và gắn bó với ông từ đó cho đến nay. Năm 1939, ông mới có dịp trở về quê hương lần thứ 2 chịu tang mẹ. Sau khi chu toàn cho mẹ, ông trở lại trường và từ đó cuộc đời ông hoàn toàn được hiến dâng cho cách mạng. Năm 1941, ông tham gia Việt Minh, và là một trong năm người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học quân sự ở Liễu Châu, Trung Quốc. Cuối năm 1944, ông tham gia gây dựng cơ sở chính trị và xây dựng lực lượng du kích ở vùng biên giới Lạng Sơn. Tháng 1/1945, ông tham gia Ban phụ trách công tác biên giới của Tổng bộ Việt Minh, và tháng 5/1945 đảm nhận chức Ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy lâm thời Lạng Sơn. Từ tháng 8/1945 đến năm 1949, ông là phái viên của Bộ Quốc phòng ở các tỉnh duyên hải tả ngạn sông Hồng, giữ chức Khu trưởng Chiến khu III – là vị Khu trưởng trẻ tuổi nhất, Phó Tư lệnh Liên khu III. Năm 1948, trong đợt phong quân hàm đầu tiên, ông được phong quân hàm Đại tá của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cuối năm 1949, ông được đề bạt làm Tư lệnh Liên khu IV. Năm 1950, Đại đoàn 304 Anh hùng (Đoàn Vinh Quang) được thành lập tại Thanh Hóa, ông được cử làm Tư lệnh của Đại đoàn. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đòan do ông chỉ huy là một trong năm Đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch lịch sử này. Từ năm 1954 đến năm 1966, ông là Hiệu phó, rồi Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao cấp, Phó Giám đốc Học viện Quân chính, Giám đốc Học viện Quân sự. Từ tháng 11/1966, ông đảm đương trọng trách Phó Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, đến năm 1967 là Tư lệnh. Tháng 8/1974, ông là Phó Tư lệnh Quân khu V. Đến tháng 3/1975, ông là Tư lệnh chiến dịch giải phóng Tây Nguyên. Một chiến dịch bậc thầy về nghệ thuật nghi binh. Một cú đấm chiến lược làm thay đổi nhanh chóng cục diện chiến trường của mùa Xuân 1975. Và đây cũng là đỉnh cao trong sự nghiệp binh nghiệp của ông. Sau giải phóng, từ tháng 5/1976 đến năm 1989, ông là Viện trưởng Học viện Quân sự trung cao cấp, Viện trưởng Học viện Quân sự cao cấp. Năm 1987, ông kiêm nhiệm chức Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Quân sự Bộ Quốc phòng. Năm 1990 ông giữ chức Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự, Bộ Quốc phòng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự, là Ủy viên Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam. Ông được phong hàm Giáo sư khoa học quân sự năm 1986, danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 1988... Là một nhà khoa học, một tướng lĩnh tài năng, GS Hoàng Minh Thảo vừa trực tiếp chỉ huy tác chiến, vừa tổng kết khoa học những vấn đề chiến thuật và chiến lược quân sự để viết thành những cuốn sách có giá trị lớn phục vụ trực tiếp cho chiến đấu, góp phần vào thắng lợi trên nhiều chiến trường. Các công trình của ông đã được các nhà xuất bản như Quân đội nhân dân, Chính trị quốc gia in, phát hành và đã trở thành những tài liệu quý giá không chỉ trong nghiên cứu khoa học và nghệ thuật quân sự mà còn là tài liệu phục vụ đào tạo, huấn luyện các sĩ quan, cán bộ lãnh đạo quân đội và các nhà nghiên cứu quân sự.
Cụm công trình về nghệ thuật quân sự Việt Nam gồm 8 cuốn sách (chi tiết xem trang 52) của GS Hoàng Minh Thảo đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Ông viết cuốn: "Học tập khoa học quân sự Xô viết" - cuốn sách đầu tiên trong Cụm công trình này từ khi là Hiệu trưởng Trường Quân sự trung cao, làm công tác huấn luyện quân sự cho cán bộ quân đội. Cuốn sách thứ hai của ông được xuất bản ngay tại chiến trường Tây Nguyên với tựa đề ‘’Tổ tiên ta đánh giặc’’. Cũng ở chiến trường, trong những năm 1973-1974 ông hoàn thành cuốn: "Thất bại của một sức mạnh phi nghĩa". Còn năm cuốn sau ông viết ở Hà Nội, khi là Viện trưởng Học viện Quốc phòng và Viện trưởng Viện Chiến lược quân sự. Cụm công trình này được hoàn thành trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1958 đến năm 2001.Tham khảo: Báo Quân đội Nhân dân.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:10:39 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:11:11 AM » |
|
Đại tướng Lê Trọng Tấn (1/10/1914 – 5/12/1986), nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (2007), Huân chương Quân công hạng Nhất hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961), Trung tướng (1974), Thượng tướng (1980), Đại tướng (1984)"Người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)
‘’Đây có phải là tướng đánh trận giỏi nhất ở Việt Nam không’’ (Chủ tịch Phidel, khi gặp Tướng Lê Trọng Tấn trong lần Chủ tịch ra thăm chiến trường Quảng Trị)
"Trí – Dũng – Nhân – Chính – Liêm – Trung", "Rộng lượng và Hào hiệp", "Tài năng, Cương trực", "Đức độ, Tài ba", "Quyết đoán, Nhân nghĩa", "Người chỉ huy ưu tú, kiên cường, người thủ trưởng có tình thương chân thành, chăm sóc anh em với tình cảm của người anh, người mẹ" (Đây là tất cả những lời tốt đẹp nhất mà các Sĩ quan cao cấp dành cho ông)Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa. Ham mê bóng đá và võ nghệ từ nhỏ, khi là học sinh của trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An ở Hà Nội) ông đã được tuyển vào Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp. Sau đó, có một thời gian ông là lính khố đỏ. Đại tướng Lê Trọng Tấn tham gia Việt Minh từ năm 1944. Lúc đầu ông được phân công làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai-Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ông là thành viên trong Ủy ban chuẩn bị khởi nghĩa tỉnh Hà Đông được cử về tuyên truyền, tổ chức và xây dựng Lực lượng vũ trang tại Ứng Hòa, La Khê, La Cả (Hà Đông). Quê ông có 4.593 nhân khẩu, nạn đói năm 1945 làm chết đói gần một nửa. Ông đã tổ chức phá kho thóc, chia gạo cho nhân dân Do Lộ vượt qua nạn đói khủng khiếp. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia vào Ủy ban khởi nghĩa Hà Đông phụ trách Quân sự - bởi những hiểu biết về quân sự có được trong thời gian ông làm lính khố đỏ, ông nhập ngũ từ thời điểm này. Cách mạng tháng Tám thành công, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những ngày toàn quốc kháng chiến mùa Đông năm 1946, ông chỉ huy một tiểu đoàn (Tiểu đoàn 60, Trung đoàn 37 ?) chiến đấu tại mặt trận Hà Đông – một cửa ngõ quan trọng phía Tây Thủ đô. Ông tổ chức diệt bốt Đồng Quan và giành thắng lợi trận đầu tiên.Tháng 12-1945, ông được kết nạp vào Đảng. Những trận đánh hay, thắng lợi giòn giã của Hà Đông đều có ông, tổ chức cho từng trận đánh vừa củng cố, vừa xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh. Sau Tết Đinh Hợi 1947, Bộ Tổng Tham mưu điều một số đơn vị Vệ quốc đoàn ở các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Nam Định, Hải Phòng… cùng một lực lượng khác thuộc Chiến khu 2 gấp rút lên miền Tây, tăng cường cho khu vực biên giới Việt-Lào để giữ vững hướng chiến lược này. Ngày 27-2-1947, Trung đoàn Tây Tiến (E52) được thành lập gồm 4 tiểu đoàn và ông là một trong những chỉ huy tiểu đoàn cùng với các ông Phùng Thế Tài, Nam Hải, Hoàng Mười…Tiếp theo đó ông lần lượt giữ chức vụ Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng các Trung đoàn Sơn La (E148) rồi Trung đoàn Sơn Tây (E37) Ngày 23/8/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu trưởng Khu XIII khi đang giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn Tây. Ngày 25/1/1948, ông được bổ nhiệm giữ chức Khu phó Khu X. Ngày 16-4-1949, Ông tham gia dự buổi lễ thành lập Đội vũ trang đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được thành lập tại Liên khu X cùng với ông Cay-xỏn Phôm-vi-hản (Sau này là Chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Lào). Đây cũng là ngày truyền thống của Bộ đội Pathét Lào. Ông là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt - Lào tổ chức đánh các trận ở Thượng Lào, Hạ Lào, Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, cánh đồng Chum, giải phóng và xây dựng chính quyền cách mạng nhân dân Lào. Năm 1949, theo quyết định của Bộ Tổng chỉ huy, trung đoàn 209, chủ lực của Liên khu 10 chuyển thành trung đoàn mạnh, trực thuộc Bộ, mang danh hiệu trung đoàn Sông Lô. Lê Trọng Tấn khi đó là Phó tư lệnh Liên khu 10 được bổ nhiệm là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Từ ngày 19/5 đến ngày 18/7 năm 1949, ông tham gia chỉ huy Chiến dịch Sông Thao. Chiến dịch tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào phòng tuyến sông Thao của Pháp ở khu vực Yên Bái, Lào Cai, nhằm diệt sinh lực, phát động chiến tranh du kích, mở rộng khu căn cứ Tây Bắc. Chiến dịch Sông Thao gồm ba đợt kết thúc thắng lợi đã làm tiêu diệt và bức rút 25 cứ điểm, loại khỏi chiến đấu gần 500 địch, thu hơn 300 súng, phá vỡ một mảng lớn phòng tuyến Sông Thao từ Ba Khe đến Bảo Hà (khoảng 70 km), tạo thế liên hoàn nối liền vùng tự do của ba tỉnh Sơn La, Lào Cai, Yên Bái. Tháng 11 năm 1949, để mở thông đường liên lạc, vận chuyển từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, 4 đồng thời thu hút lực lượng địch đang tập trung càn quét vùng đồng bằng Bắc Bộ, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy quyết định mở chiến dịch Lê Lợi trên chiến trường tỉnh Hòa Bình. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch đảm nhiệm từ chợ Bờ lên Suối Rút (ông Hoàng Sâm là Tư lệnh chỉ huy từ Hồi Xuân lên Mai Hạ và ông Lê Quang Hòa là Chính ủy). Kết quả Bức tường quân Pháp ngăn chặn giữa Việt Bắc và Liên khu 3, 4 bị đập tan, toàn huyện Mai Châu được giải phóng. Âm mưu lập xứ Mường tự trị bị phá sản. Năm 1950, Đại đoàn 312 được thành lập, ông là Đại đoàn trưởng đầu tiên khi mới 36 tuổi. Tháng 9 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính. Lê Trọng Tấn được cử làm Phó tư lệnh chiến dịch đồng thời ông là chỉ huy của trận đánh tiêu diệt Binh đoàn cơ động Sác-tông của Pháp. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Đại đoàn 312 do ông chỉ huy là Đại đoàn đánh trận mở đầu thắng lợi vào cứ điểm Him Lam (Béatrice) (ngày 13 tháng 3 năm 1954) khiến cho thiếu tá Pégrot bị tử thương cùng với toàn bộ sĩ quan trong hầm. Ngày 7/5/1954, trong đợt tiến công cuối cùng, một đơn vị của Trung đoàn 209 thuộc Đại đoàn của ông cùng với một đơn vị thuộc Trung đoàn 174 đã bắt sống tướng Đờ Cát và ban chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Từ tháng 12 năm 1954 đến năm 1960 ông là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân. Đây là thời kì hết sức quan trọng nhằm đào tạo nguồn cán bộ quân sự chi viện cho miền Nam chuẩn bị cho Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ tháng 3 năm 1961 đến năm 1962 ông giữ cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 9 năm 1964, để chuẩn bị đánh Mỹ, cùng với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ông được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Phó tư lệnh, Ủy viên Quân ủy Quân giải phóng miền Nam cho đến năm 1969. Ông là một trong các vị tướng tham gia tổ chức Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Từ năm 1970 đến năm 1971, ông là Đặc phái viên Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam bên cạch Bộ chỉ huy Quân Giải phóng nhân dân Lào, tham gia chỉ đạo cánh đồng Chum. Ngày 30-1-1971, Quân đội Mỹ kết hợp với Quân đội Việt Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân Lam Sơn 719, tiến ra đường số 9 và Nam Lào, nhằm đánh chiếm Sê Pôn và chặn phá đường mòn Hồ Chí Minh. Đối phương huy động tới hơn 3 vạn quân chủ lực, 450 xe tăng, 250 khẩu pháo, 700 máy bay, chia làm 3 hướng: cánh quân chủ yếu vượt qua Lao Bảo đến Bản Đông; hai cánh còn lại dùng trực thăng đổ bộ xuống các điểm cao bên đường 9, đồng thời tuyên bố: “Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Sê Pôn”...Quân ủy Trung ương đã chủ động mở Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (Mật danh 720) để đối phó, khiến cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa từ thế chủ động sang thế bị động phải rút lui. Ngày 7-3-1971, khi nghe báo cáo “Việt Nam Thông tấn xã báo cho Cục Tuyên huấn là ngụy Sài Gòn hủy bỏ kế hoạch đưa phóng viên báo chí phương Tây đến Sê Pôn...”. ông đã nói ngay: “Địch sắp rút”... Và ngay hôm sau, lời kêu gọi của Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận đã được truyền xuống các đơn vị: “Thời cơ chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận đã đến! Diệt và bắt sống thật nhiều địch! Phá hủy thật nhiều phương tiện chiến tranh của chúng! Đập tan cuộc hành quân Lam Sơn 719! Bảo vệ vững chắc con đường mang tên Bác, giành toàn thắng cho chiến dịch”...Mười ngày tiếp đó, từ các mũi, hướng, bộ đội dồn dập tấn công. 18-3-1971, đối phương phải bỏ Bản Đông tháo chạy, và cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bị đập tan! Năm 1972, ông được cử làm Tư lệnh chiến dịch Quảng Trị với mật danh anh Trọng, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị 1/5/1972. Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1, là Quân đoàn bảo vệ miền Bắc. Tháng 3 năm 1975, ông làm Tư lệnh chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng. Đánh tan Quân đoàn I, Quân khu I Việt Nam Cộng hòa khi mà tại căn cứ Liên hợp Quân sự Đà Nẵng họ còn tới gần 10 vạn quân cộng với vũ khí hiện đại. Tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh cánh quân phía Đông (gồm quân đoàn 2, quân đoàn 4, sư đoàn 3) tấn công vào Sài Gòn. Chính trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử bằng óc phán đoán và đầu óc phan tích chiến lược, ông đã đề nghị Quân ủy cho cánh quân của mình nổ súng trước giờ G để cho đối phương không kịp co cụm hay phá hủy cầu. Chính Lữ đoàn xe tăng 203, quân đoàn 2 thuộc cánh quân của ông đã tiến vào dinh Độc Lập đầu tiên. Từ năm 1976 đến tháng 2 năm 1977 ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Viện trưởng Học viện quân sự cao cấp. Từ tháng 6 năm 1978 đến năm 1986 ông là Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Từ tháng 12 năm 1978 đến tháng 2 năm 1979 ông chỉ huy các lực lượng vũ trang trong chiến tranh biên giới Tây Nam và đánh quân Khmer Đỏ của Pol Pot ở Campuchia. Mùng 1 tháng 7 năm 1983, 70 tuổi, ông vẫn chỉ huy trận đánh bảo vệ Biên giới phía Bắc. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 4 và 5 (từ 1976 đến 1986), đại biểu Quốc hội khóa VII. Ông được mệnh danh là tướng trận, tướng tấn công và thường ví ông như nguyên soái Giucov của quân đội Liên Xô. Các nhà khoa học quân sự và quân đội anh em kính nể, học tập ông về tài năng, đức độ và tầm chiến lược, chiến thuật, kiệt xuất của QĐND Việt Nam. Ông đánh giá đúng tình hình, biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng thể hiện tài năng của người chỉ huy trận mạc. Ông là hình mẫu của quân lệnh như sơn, thẳng thắn, nghiêm túc, bao dung, biết đánh, nhưng cũng biết dừng để bảo toàn lực lượng.
Ông đi đến đâu, chỉ huy chiến dịch nào, mũi tiến công vào đâu, tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ của các quân đoàn do ông chỉ huy đều đoàn kết một lòng một dạ tin tưởng, vững tâm vào tài năng, thông minh, sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán cho từng trận đánh. Kẻ thù nghe tin tướng Ba Long chỉ huy chiến dịch nào đều sợ hãi, hoảng loạn, co cụm, bạc nhược và tê liệt sức chiến đấu, đó là uy quyền của một dũng tướng. Thắng lợi trong những trận đánh, tất yếu có sự hy sinh đổ máu. Ông không bao giờ chấp nhận câu nói: “Trận này ta thiệt hại không đáng kể”. Vì đây là sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ.
Cuộc đời ông đã có mặt hầu hết ở các chiến trường nóng bỏng và đã chỉ huy hàng trăm trận đánh trên cả 2 miền Nam - Bắc. Dấu ấn 2 mốc son lịch sử của ông năm 1954, ông là Đại đoàn trưởng F312 đã chỉ huy tham gia chiến dịch Điện Biên lịch sử, đánh phía Đông vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát. Năm 1975, ông là Tư lệnh trưởng, chỉ huy các binh đoàn đánh phía Đông vào Dinh độc lập, cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, bắt sống tướng Dương Văn Minh, phải đầu hàng vô điều kiện. Hai trận đánh, hai mốc son lịch sử đã kết thúc hai cuộc chiến tranh với quân đội viễn chinh Pháp, đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn. Mở ra kỷ nguyên mới, hòa bình, thống nhất độc lập và tự do của dân tộc. Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: Hai trận đánh xứng đáng hai lần anh hùng.
Lê Trọng Tấn, một vị tướng tài năng có kinh nghiệm và kiến thức khoa học quân sự. Chiến dịch giải phóng miền Nam, ông đã chỉ huy vài vạn quân với hàng nghìn xe các loại, hợp đồng ba thứ quân và các binh chủng, vượt qua hàng nghìn cây số, vượt 500 con sông, đến đúng giờ quy định của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần quyết định thắng lợi ngày 30-4-1975. Với chiến thuật đánh chắc thắng chắc, bao vây giỏi, chiếm từng phần, đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, trong đánh ra ngoài đánh vào, khống chế điểm mạnh, đánh điểm yếu của địch, diệt từng phần, chớp thời cơ, tiêu diệt toàn bộ sinh lực của địch. Đã đúc kết được 6 nội dung là: Vây lấn, tấn, phá, triệt, diệt có giá trị cho lịch sử khoa học quân sự Việt Nam.
Không thể kể hết công trạng quá dài của ông, người ta chỉ có thể ghi nhận điều cốt yếu: ông luôn được tin cậy để giao nhiệm vụ gầy dựng nền móng ban đầu cho những công việc hệ trọng và mới mẻ. Không chiến trường nào không lưu dấu chân ông từ Bắc-Nam-Trung, không cuộc chiến tranh nào dù chống Pháp, chống Mỹ, chống bọn diệt chủng Pôn Pốt hay bảo vệ biên giới phía bắc, lại không cần đến tài năng quân sự của ông. Từ vai trò Hiệu trưởng Trường Sĩ quan lục quân cho đến Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, Giám đốc Học viện chính trị cao cấp Bộ Quốc phòng, ông là người thầy xứng đáng cho những sĩ quan thế hệ sau. Nhưng đáng nói hơn, ông là tướng tư lệnh của tất cả những chiến dịch lớn nhất, quan trọng nhất trên các chiến trường quyết định: Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng...; chiến dịch Đường 9 Nam Lào, mặt trận Trị Thiên mùa hè 1972; tư lệnh cánh quân duyên hải, khai sinh sau khi Đà Nẵng giải phóng, đến Sài Gòn sớm nhất vào mùa xuân 1975... 70 tuổi Đại tướng Lê Trọng Tấn vẫn khoác áo lính ra trận.
"Anh Tấn ơi! Ngơ ngác khắp quân doan Sáng họp... tối đi... sao vội thế anh? Đại hội chưa xong... anh lên đường Như xưa kia Bác Hồ điện gấp Vẫn như ngày nào suốt đời cập rập "Chơ vơ dưới cửa ba nghìn khách Lạnh lẽo trong lòng chục vạn binh" Sáng như trời sang xuân Tối như mùa đổi tiết...". (Đại tá NSND Tào Mạt) Mưu trí nhưng thận trọng, ông luôn tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất cho binh sĩ. Với sĩ quan thuộc cấp, ông chân thành thương yêu nhưng không cho phép sai sót. Ông là vị tướng "biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân". Là một vị tướng chiến trường nổi tiếng nhưng ông cũng là một người có đầu óc chiến lược. Một vị tướng chiến lược mà vóc người thanh mảnh, nói năng nhỏ nhẹ như thầy giáo làng quê mà ta thường gặp, rất dễ gần gũi.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:13:53 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:14:15 AM » |
|
Trung tướng Cao Văn Khánh (1917-1980), nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1974-1980), nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang Khánh Hòa (1946), nguyên Khu trưởng Quân sự Khu 5(1946-1949), nguyên Đại đoàn phó (đầu tiên) Đại đoàn Quân tiên phong.
Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba...
Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)Ông sinh năm 1917 tại Thừa Thiên Huế. Sau khi đỗ Cử nhân Luật, ông không đi theo con đường để trở thành quan mà chọn nghề dạy học. Ông dạy trường tư nhưng vì dạy giỏi cho nên cùng với Hữu Ngọc ông luôn được Trường Quốc học Huế và Trường Đồng Khánh tại Huế mời chấm thi. Tham gia phong trào hướng đạo sinh, Cao Văn Khánh là hướng đạo sinh có tài tổ chức và chỉ huy, là một người yêu nước, ông được cách mạng bắt liên lạc và khuyên học Trường Quân sự (Võ bị) Thanh niên tiền tuyến ở Huế. Trường Quân sự Thanh niên tiền tuyến Huế tuy do chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lập ra nhưng được điều hành bởi những nhà trí thức nổi tiếng như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Luật sư Phan Anh-cả hai đều giữ những chức vụ chủ chốt trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng 8. Học viên của trường hầu hết đều là sinh viên các trường Đại học ở Đông Dương, một số đã là cơ sở của Việt Minh hướng sinh viên theo hướng mặt trận Việt Minh. Nhiều sinh viên xuất thân danh giá như ông Tôn Thất Hoàng con của Thượng thư Tôn Thất Quảng, Đặng Văn Việt (chỉ huy nổi tiếng của Trung đoàn 174, người được mệnh danh là Con hùm xám của Đường số 4 – Đệ tứ quốc lộ đại vương) có bố là Tổng đốc Nghệ An từng ba lần giữ chức thượng thư, ông Võ Sum là con quan án sát Võ Chuẩn, ông Lê Thiệu Huy con trai cụ Lê Thước và là anh em họ với Giáo sư Lê Văn Thiêm, sau sang chiến đấu tại mặt trận Lào làm Tham mưu trưởng liên quân Lào Việt người đã lấy thân mình che đạn cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông khi mặt trận Thà Khẹt bị vỡ và hy sinh trên dòng Mê-kông, ông Hoàng Xuân Bình em ruột Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, ông Nguyễn Thế Lương tức Thiếu tướng Cao Pha là con ruột của một nhà thầu khoán lớn…Nhiều sinh viên của trường đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như Thiếu tướng Đào Hữu Liêu-Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế, Thiếu tướng Đoàn Huyên-Tư lệnh Bộ đội Tên lửa Phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không Không quân, Thiếu tướng Mai Xuân Tần-Đại đoàn Quân tiên phong, Thiếu tướng Võ Quang Hồ-Cục phó Cục tác chiến, Thiếu tướng Phan Hàm-Bộ tổng Tham mưu… Cách mạng Tháng 8 năm 1945, ông cùng với các sinh viên của Trường tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế dưới sự lãnh đạo của ông Phan Tử Lăng (tốt nghiệp thủ khoa khóa quân sự chính quy đầu tiên của Pháp cùng khóa với Dương Văn Minh-Đại tướng Tổng thống Ngụy miền Nam Việt Nam, chỉ huy vệ binh Trung Kỳ, sau này ông là Đại tá Cục trưởng Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam). Sau đó, ông nhập ngũ và tham gia vào Ban chấp hành Giải phóng quân. Thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Nam Bộ (23/9/1946), cùng một đơn vị Giải phóng quân của Thừa Thiên Huế, ông lên đường Nam tiến và được cử làm Tham mưu trưởng mặt trận Nha Trang-Khánh Hòa. Sau đó, ông được cử làm Khu trưởng Quân sự khu 5, Chính ủy là ông Trần Lương (Thượng tướng Trần Nam Trung, Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam). Ngày 19/12/1946, cùng với Tướng Nguyễn Chánh, ông là một trong hai người ra lệnh cho nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến ở khu 5. Năm 1949, Đại đoàn Quân tiên phong (Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam) được thành lập do ông Vương Thừa Vũ (sau này là Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam) làm Đại đoàn trưởng. Cao Văn Khánh được Bộ Tổng tư lệnh điều ra Việt Bắc giữ chức vụ Đại đoàn phó theo sắc lệnh số 57 ngày 18 tháng 6 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông cùng Đại đoàn tham gia nhiều chiến dịch lớn như : 1949-Chiến dịch sông Thao trên cương vị Chỉ huy phó chiến dịch, 1950-Chiến dịch Biên giới… Năm 1953, Trung ương và Bộ Quốc phòng đã nhìn thấy trước yêu cầu, bộ đội Việt Nam rồi đây sẽ phải tiến công tiêu diệt những tập đoàn cứ điểm mạnh của quân Pháp. Ông cùng với ông Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng), hai người đồng chí gắn bó với nhau trong các chiến dịch sông Thao và Biên Giới, được giao phó trách nhiệm nghiên cứu chuyên đề Tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), khi Bộ chỉ huy chiến dịch chuyển từ chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc, tiến chắc, Đại đoàn 308 dưới sự chỉ huy của Đại đoàn phó Cao Văn Khánh được giao nhiệm vụ đặc biệt: Mở đường hành quân sang đất Lào tiến công địch trên tuyến sông Nậm Hu, đánh phủ đầu để làm mất sức những lực lượng quân Pháp rồi đây sẽ tiếp viện cho quân bị vây hãm ở Điện Biên và bịt trước con đường mà theo dự kiến quân Pháp sẽ đồn trú ở lòng chảo Điện Biên thua trận sẽ tháo chạy. Ngày 22/5/1954, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc Toản (nữ sinh Đồng Khánh năm xưa, là con gái út quan thượng thư Tôn Thất Đản, em vợ Giáo sư Bác sĩ Đặng Văn Ngữ. Bà Toản sau này là Đại tá Giáo sư Bác sĩ). Lễ cưới của ông bà được tổ chức ngay trong hầm của tướng Đờ-cát và là một trong năm đám cưới được tổ chức tại đây sau ngày chiến thắng. Trong kháng chiến chống Mỹ, từ năm 1964, Cao Văn Khánh đã có mặt tại Quân khu 4, tuyến đầu của miền Bắc chi viện tiền tuyến lớn. Ông vào chiến trường miền Nam cũng rất sớm. Năm 1966, đã cùng bộ đội đóng tại Đắc Tô (Tây nguyên). Từ năm 1966 đến năm 1974, thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt nhất, ông được cử làm Tư lệnh B5 (Trị Thiên Huế) đồng thời Cao Văn Khánh là thành viên Ban Chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trên cương vị Phó Tư lệnh như : Khe Sanh (1968), Chiến dịch Đường 9 Nam Lào (1971), Quảng Trị (1972), Tây nguyên (1974). Sau gần 30 năm trực tiếp chỉ huy quân đội tại các chiến trường, năm 1974, Cao Văn Khánh được điều về làm việc tại cơ quan Bộ Tổng Tham mưu trên cương vị Phó Tổng tham mưu trưởng. Đây là thời gian khẩn trương chuẩn bị cuộc tổng tiến công và nổi dậy lịch sử năm 1975. Trong mùa xuân đại thắng, cùng với Đại tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Hoàng Văn Thái, Trung tướng Phó Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Khánh là một trong những trợ thủ đắc lực của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Ngoài các nhiệm vụ khác, Cao Văn Khánh đảm trách phần việc từng ngày, từng giờ nắm chắc tình hình chiến sự, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị và đích thân Tổng tư lệnh. Chính ông là người truyền đạt chính xác, kịp thời mệnh lệnh của tổng tư lệnh đến các cánh quân, các lực lượng trên chiến trường. Đủ thấy công việc không chỉ vô cùng khẩn trương mà còn đòi hỏi ý thức trách nhiệm cao và một trí tuệ sắc sảo. Trung tướng Cao Văn Khánh mất đột ngột ở tuổi 63 vào năm 1980 do ung thư gan kịch phát bởi di chứng của chất độc màu da cam mà ông mắc phải trong chuyến đi vào huyện A Lưới Thừa Thiên. Theo lời kể của Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự thì đoàn có 5 người thì có đến 4 người mất vì căn bệnh ung thư gan, người còn lại duy nhất là ông nhưng có con gái út bị di chứng chất độc da cam.
Hai người con trai của tướng Cao Văn Khánh thì một đã hy sinh trong chiến tranh một cũng ra đi ở tuổi ngoài 30 bởi căn bệnh giống hoàn toàn ông-ung thư gan kịch phát bởi di chứng chất độc màu da cam. Vợ ông Đại tá-Giáo sư-Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản hiện là Ủy viên thường vụ Hội nạn nhân chất độc màu da cam-một tổ chức mà bà là một trong những người đầu tiên vận động thành lập, một người không ngừng đấu tranh nhằm xoa dịu nỗi đau của nạn nhân chất độc màu da cam và đòi chính quyền Mỹ phải bồi thường cho họ.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:28:01 AM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:22:29 AM » |
|
Tướng Nguyễn Chánh (5/8/1914-24/9/1957), nguyên Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5. Hội sử học Việt Nam đã trân trọng đúc tượng đồng ông, hiện đặt tại Viện Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.
Huân chương Sao Vàng (truy tặng 11.12.2007), Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhì…Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) 1954, tướng Pháp Đờ Bô-pho (De Beaufort) nhờ Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp cho ông ta gặp bằng được người chỉ huy đánh bại chiến dịch At-lan-te trên chiến trường Tây Nguyên năm 1953-1954. Tổng tư lệnh đã đồng ý và sắp xếp một cuộc gặp riêng giữa tướng Đờ Bô-pho và tướng Nguyễn Chánh. Đờ Bô-pho đã không tin rằng ngồi trước mặt mình là "một vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường" - như hồi ký sau này ông ta đã thuật lại.
‘’Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cống hiến lớn với cách mạng và kháng chiến. Anh đã đi quá sớm, năm 1957, lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.’’ (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)
“Cuộc đời một con người mới 43 tuổi mà đã để lại một sự nghiệp như vậy, có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có tài và một con người mẫu mực”. (Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp)
“Là một con người thông minh và hiếu học, rất giàu những phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng, mà cũng rất giàu trí tuệ và tài năng. Anh bắt đầu giác ngộ cách mạng và hoạt động cách mạng từ thời rất trẻ, đã vào tù ra tội nhiều lần và suốt đời phấn đấu vì mục tiêu cao cả là độc lập dân tộc và CNXH” (Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng)
Anh Nguyễn Chánh là một con người văn hóa, một nhà văn hoá, theo nghĩa rộng và đẹp nhất của khái niệm đó. Ở anh, không ít đâu, có tinh hoa của văn hoá uyên bác phương Đông và Việt Nam, mà bằng sự thông minh hiếm có, anh đã học được ngay từ nhỏ và gìn giữ, phát triển suốt đời, vận dụng sắc sảo những gì là bản chất tinh tuý nhất, trong công việc cách mạng, trong ứng xử việc lớn việc nhỏ, trong quan hệ với con người. Phần này đến từ gia đình và truyền thống văn hiến quê hương…Anh Nguyễn Chánh đã cho ta hiểu thế nào là một nhà văn hoá, mà chẳng phải “ồn ào văn hoá” chút nào. (Nhà văn Nguyên Ngọc)Tướng Nguyễn Chánh, tên thật là Nguyễn Hiệp và bà con hàng xóm vẫn thường gọi là Chín do ông là con thứ tám trong nhà, quê tại Thọ Lộc (nay là xã Tịnh Hà) huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Quê hương ông đã sinh ra nhiều người có học vị, cử nhân, tú tài nho học. Nhiều nhà yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân, tổ chức nhiều cuộc bạo động chống thực dân Pháp xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Hàng chục sĩ phu đã bị quân giặc xử chém, bêu đầu, nhưng phong trào vẫn liên tiếp bùng nổ lan rộng. Bản thân quê hương ông cũng là nơi sinh thành của nhiều tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam như : Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Nguyễn Đôn, Trung tướng Phạm Kiệt (anh vợ của Tướng Nguyễn Chánh)… Ông sinh ra ở một trong mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi (Hà nhai vãn độ). Nơi đây, ngày xưa sát bờ sông là chợ chiều buôn bán tấp nập, bến Biền ghe thuyền qua lại đông vui, xóm làng sầm uất, kéo dài từ sát bờ sông ra phía Bắc giáp đường lộ từ huyện lỵ Sơn Tịnh đi Đồng Ké. Ở đây đào giếng nơi nào cũng mạch nhiều, nước ngọt lịm nên có câu ca: “Ai xa nhớ trở về quê Trước sông, sau chợ, giếng kề một bên” Nguyễn Chánh là con út trong một gia đình có tám con (tám lần sinh nhưng chỉ còn sáu người - bốn trai, hai gái) gia đình chỉ có cái ao sau nhà là tài sản quý giá nhất. Gia đình ông, nhất là về phía mẹ, là một gia đình có truyền thống văn chương, mẹ ông thường ca ngợi cuộc khởi nghĩa do Lê Trung Đình lãnh đạo. Ông sinh ra trên mãnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều nhà yêu nước, nhiều nhà thơ phú. Bố ông là cụ Nguyễn Hàm Chức, là một thợ xe nước bậc thầy, dân xe nước ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi không ai không biết tới ông. Bến đò xóm Vạn ở Sơn Tịnh từng có một bờ xe nước mang tên cụ. Gia đình cụ tuy không khá giá nhưng rất có uy tín trong làng, bản thân cụ hồi trẻ đã từng tham gia nghĩa quân Lê Trung Đình chống Pháp. Cụ là cơ sở của nhiều nhà Cách mạng tiền bối như Nguyễn Nghiêm, Phan Thái Ất, Tôn Diêm…và sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ngôi nhà tranh của cụ trở thành đại bản doanh của các nhà lãnh đạo khu 5. Thời thơ ấu, ông là trò giỏi, học rất thông minh, được thầy giáo yêu quý, bạn bè nể phục. Thường thường, tan buổi học, thầy Rôm ra về rồi, ông rủ bạn ở lại ngồi "truy" bài. Ai chưa hiểu ông giảng lại như thầy giáo phụ giảng. Có bạn quá nghèo, ông cho cả vở để viết. Thi sơ học yếu lược (tưong đương lớp 3 tiểu học), vào môn vấn đáp, giám khảo hỏi ông: - Tại sao người ta lập đền miếu để thờ? Ông thản nhiên trả lời: - Thưa thầy, đó là xưa bày, nay làm; chứ con nghĩ không có ma quỷ nào cả. Thầy giáo ngạc nhiên và cho điểm tốt. Cùng các môn thi khác ông đỗ đầu kỳ thi sơ học yếu lược. Tiếp đó ông còn đi học chữ Hán của thầy Tú Trầm và học phương pháp châm cứu, đốt chữa bại liệt, bốc thuốc bắc của thầy Cừ. Nối nghiệp các bậc ân sư ông đã chữa lành cho nhiều người. Ngày cụ Phan Chu Trinh về nước, ông thường đi mua sách báo, thơ ca yêu nước rồi tập họp gia đình, chòm xóm lại đọc cho mọi người nghe. Ông đọc các tác phẩm: "Quốc gia huyết lệ", "Nam quốc dân tu trí", "Nữ quốc dân tu trí"...và đọc thơ cách mạng. Từ đó lúc nào ông cũng nói đến độc lập, tự do của dân tộc và căm thù thực dân Pháp xâm lược. Tướng Nguyễn Chánh sớm giác ngộ và sớm tham gia cách mạng. Năm 1929, khi mới 15 tuổi, qua anh ruột là ông Nguyễn Tải, ông bắt đầu làm cách mạng: liên lạc cho tổ chức Thanh niên Cách mạng ông hội bảo vệ và che giấu cho các đảng viên cộng sản ở khu vực Suối Ngổ. Bước ngoặt quan trọng nhất với Nguyễn Chánh là thời gian ông làm liên lạc cho ông Trương Quang Trọng, nguyên Bí thư Thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 1929, trước khi ông Trong hy sinh anh dũng ở nhà ngục Kom Tum. Năm 1930, ông phụ trách tuyên truyền cho Phân khu Bắc Trà (sông Trà Khúc) của Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Sau ngày 1 tháng 5 năm 1931, ông bị bắt trên sông Trà Khúc. Bọn xã giải ngay về huyện để lĩnh thưởng của tri huyện Nguyễn Bính. Trong phòng hỏi cung, ông khai sinh năm 1916 (14 tuổi), trình độ văn hóa sơ học yếu lược, đang lao động chăn trâu ở Suối Ngổ, nơi ông bố vỡ hoang, trồng thuốc lá. Bị bắt phải khai nhận là cộng sản, ông khai đi khai lại cương quyết không nhận kể cả khi tri huyện Nguyễn Bính trực tiếp hỏi cung. Mấy ngày sau, ông bị chuyển lên nhà lao tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây có tên cai ngục Trần Luận khét tiếng tàn ác. Chúng treo Nguyễn Chánh lên đánh liên tục hai ngày liền, ông vẫn không một lời khai báo. Cuối cùng ông bị kết án 2 năm tù vì tội trốn theo cộng sản. Tại nhà lao Quảng Ngãi, tù chung thân và tù có án tử hình bị nhốt chung. Tù nhân ở đây không chỉ chết vè các đòn tra tấn dã man mà còn chết vì ngạt thở, phù thũng. Cơm tù nấu bằng gạo mục có lẫn mọt sâu. Rau muống luộc với giẻ rách. Ngày nào cũng có xe bò kéo xác tù đi chôn ở núi Bút. Trước tình hình đó, ông tham gia đấu tranh, quyết định tuyệt thực để chống chế độ nhà tù hà khắc. Cuối cùng, địch phải nhượng bộ, cải thiện một phần chế độ ăn uống trong tù. Trong thời gian ở tù, ông được các tù nhân hết sức yêu quý bởi học thức và tính cách, đồng thời ông cũng là thầy đốt, thầy châm cứu chữa lành bệnh cho các tù nhân. Trong nhà lao, ông gặp bà Phạm Thị Trinh (là người ông, người vợ của ông. Bà được kết nạp Đảng năm 1930 và là Đại biểu Quốc hội khóa 1). Cùng năm này, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi hết hạn, ra tù, ông vẫn bị o ép, quản thúc tại nhà. Từ năm 1935 đến năm 1939, ông là Tỉnh ủy viên thường trực Tỉnh ủy Quảng Ngãi phụ trách đấu tranh công khai rồi sau đó là Bí thư liên tỉnh ủy ba tỉnh Quảng Ngãi-Bình Định-Phú Yên (1939). Năm 1939, ông tổ chức đám cưới với bà Phạm Thị Trinh (mặc dù bố mẹ bà Trinh lúc đầu không đồng ý vì chê tướng Nguyễn Chánh nhỏ và đen). Cùng năm này, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ hai và giam vào xà lim số 1, xà lim mà ai vào đó thì hoặc là chết hai là tàn tật. Nhưng ông thà chết khống khai, thực dân Pháp kết án ông tù khổ sai và áp giải lên đồn Ba Tơ. Nhận thấy ông vẫn là mối nguy hiểm ở đây, thực dân Pháp lại đưa ông ra Gi-lăng rồi đưa lên Buôn Ma Thuột. Ở đây ông tham gia ban lãnh đạo đấu tranh chống đàn áp tù nhân, tổ chức nhiều cuộc tuyệt thực, làm reo, náo động cả thị xã. Ngoài ra ông cùng còn mọi người tích cực học lý luận Mác Lê-nin, học đường nối chính sách của Đảng, học quân sự, học văn hóa, học tiếng Pháp và làm thơ. Nguyễn Chánh dạy chữ Hán, dạy làm thơ đường luật và chăm chỉ học tiếng Pháp... Càng đấu tranh, tính cách Nguyễn Chánh càng đậm sắc. Tháng 9 năm 1944, hết hạn tù, lũ tay sai của thực dân Pháp vẫn còn sợ “thả hổ về rừng” lên đưa ông đi an trí trại căng Phú Bài Thừa Thiên. Đây thực chất là nhà tù trung cổ, làm cho tù nhân chết dần, chết mòn. Căng như ấp chiến lược, xung quanh có hào sâu, dây thép gai, hầm chông, cạm bẫy. Tù nhân bị bắt đi làm xâu, vô cùng vất vả, cực nhọc. Họ vào qua một cái cầu treo. Cầu kéo lên, căng bị cô lập với bên ngoài. Lính gác dày đặc trên các chòi canh, sẵn sàng bắn bất cứ ai mà chúng nghi là chạy trốn. Phải đến lúc Nhật đảo chính, ông mới vượt mọi khổ ải từ Căng An Trí Phú Bài trở về quê hương. Ngày 11/3/1945, khởi nghĩa Ba Tơ thành công dưới sự chỉ huy trực tiếp của các ông Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt (sau này đều là Trung tướng). Chi bộ Đảng của Đội du kích Ba Tơ chủ trương rời bỏ đồn chuyển ra rừng xây dựng căn cứ để phát triển nhanh chóng lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, càng đi vào rừng sâu đội càng gặp nhiều khó khăn, quân số giảm. Trước tình hình này, Nguyễn Chánh được Đảng ủy Tỉnh Quảng Ngãi phân công về lãnh đạo đội du kích Ba Tơ, duy trì và phát triển làm nòng cốt cho mặt trận Việt Minh tại tỉnh Quảng Ngãi, và đây cũng là đội vũ trang đầu tiên, lòng cốt của khu 5 (Nam Trung Bộ) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời cũng là một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông đã có chủ trương rất táo bạo, sáng suốt: không để Đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, có chủ trương đưa quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phong trào cách mạng của quần chúng. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn Đội du kích Ba Tơ từ mười mấy người đã phát triển thành hai đội mạnh (Đại đội Phan Đình Phùng hoạt động ở Nam Quảng Ngãi, Đại đội Hoàng Hoa Thám ở Bắc Quảng Ngãi), cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ. “Khởi nghĩa Ba Tơ dày chiến tích Cao muôn trùng điệp gió ngàn ru Đèo lên mây chạm đầu du kích Dốc xuống mưa lùa chân chiến khu” (Đội du kích Ba Tơ-Tướng Nguyễn Chánh) Ngày 14/8/1945, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, đội du kích Ba Tơ với khoảng 2000 vệ quốc quân đã trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng tiền hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi từ tay Phát-xít Nhật. Quảng Ngãi là một trong bốn tỉnh giành chính quyền sớm nhất ở nước ta trong Cách mạng tháng 8 (Hải Dương, Hà Giang, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi). Với cương vị là Trưởng ban quân sự, chỉ huy cuộc Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Chánh tỏ rõ tài năng chính trị, quân sự song toàn, nhanh nhạy, nắm bắt thời cơ, hành động kiên quyết, kịp thời, đã cùng tập thể đưa cuộc tổng khời nghĩa đến thắng lợi hoàn toàn. Kháng chiến toàn quốc 1946, ông là Ủy viên trưởng Quốc phòng của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ cho đến năm 1950. Phó bí thư khu ủy khu 5 kiêm Chính ủy Liên khu 5 từ năm 1945 đến năm 1948. Liên khu V có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt có chiến trường Tây Nguyên, khống chế cả khu vực Nam bản đảo Đông Dương và nối liền hành lang huyết mạch với Nam Bộ. Vì vậy, từ ngày đầu toàn quốc kháng chiến, ông Phạm Văn Đồng được Trung ương cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở đây trực tiếp chỉ đạo chiến trường này. Trong thời kỳ đó, quân và dân liên khu V đã lập được kỳ tích: giữa vòng vây của quân thù, vẫn giữ vững vùng tự do gồm bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn - Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bên cạnh đó chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hóa giáo dục phát triển, hệ thống đường giao thông giữa các tỉnh với Nam Bộ. Nam Trung Bộ thực sự trở thành một hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Với cương vị là Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, ông có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích đó. Từ năm 1949, sau khi ông Phạm Văn Đồng cùng một số lãnh đạo khu 5 khác (Nguyễn Duy Trinh...) được điều ra Việt Bắc, tướng Nguyễn Chánh giữ vai trò chủ chốt ở liên khu 5. Ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Bí thư Liên khu ủy V, kiêm Chính ủy Liên khu 5 (1948-1951). Bí thư Liên khu uỷ, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu 5 (1951-1954). Năm 1950, ông ra dự Hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng uỷ các chiến dịch Đường 18 và Trung Du vào đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông đã dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 (1951) và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này, Trung ương đã có ý định giữ ông ở lại làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thay cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh để Đại tướng tập trung chuyên về công tác Đảng, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên ông lại trở về Liên khu 5.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 06:52:57 AM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:23:11 AM » |
|
Từ năm 1951 trở đi, phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu V không ngừng tiếp tục được giữ vững mà còn có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, ông tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy kiêm Tư lệnh, ông tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là người chỉ huy kiên quyết có tài năng tổ chức. Vào mấy năm 1951-1952, Liên khu V gặp nhiều vấn đề khó khăn phức tạp: vụ Sơn Hà, nạn đói trầm trọng vì thiên tai, những sai lầm trong chỉ đạo thu thuế nông nghiệp, thực hiện tổng động viên, những vấn đề nẩy sinh trong xây dựng và tác chiến của các lực lượng vũ trang...Nguyễn Chánh một lần nữa lại tỏ rõ tài năng bao quát mọi lĩnh vực, giải quyết dứt điểm từng vấn đề, trên cơ sở một tri thức sâu rộng và đầu óc thực tiễn. Năm 1952, ông ra một quyết định táo bạo là giảm quân của Liên khu V từ 5 vạn xuống còn 3 vạn theo hướng "tinh binh, tinh cán" nhằm nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội Liên khu.
Năm 1953, ông ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ quan trọng trong chiến cục Đông-Xuân-Hè 1953-1954. Nhằm phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện nghị quyết của Quân ủy Trung ương, ông đã kiên trì đấu tranh, giải thích với mọi ý kiến trái ngược cũng như các thắc mắt của lãnh đạo cũng như bộ đội và đồng bào khu 5 về chủ trương ‘’không bị động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng’’. Bởi nhiều người lúc đó cho rằng nếu làm vậy sẽ mất vùng tự do và muốn dùng chủ lực để giữ vững đồng bằng. Kết quả : một mảng phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên đã bị phá vỡ, tỉnh Kon Tum và vùng cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó, nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía Nam, đánh quân Pháp trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Plây-cu, thọc sâu vào cao nguyên Đăk lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liền với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân Pháp ở Phú Yên và uy hiếp cả Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân và dân khu 5 đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam và Đông-Bắc Campuchia, phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch At-lan-te của địch đã bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu 5 được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi to lớn hơn nữa.
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1954, ông tập kết ra Bắc lần lượt giữ các chức vụ Phó Tổng tham mưu trưởng rồi Tổng cục trưởng Tổng cục cán bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là một trong ba người được đề nghị phong quân hàm Thượng tướng đầu tiên khi cấp bậc này được áp dụng. (Hai người còn lại là Đại tướng Hoàng Văn Thái và Thượng tướng Chu Văn Tấn).
Vợ của tướng Nguyễn Chánh là bà Phạm Thị Trinh cũng là một nữ cán bộ cách mạng kiên cường.Là người vợ đồng thời là ông, đồng hương của ông. Bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam 1930-trước tướng Nguyễn Chánh một năm. Giống như ông, bà bị thực dân Pháp bắt giam 2 lần. Lần đầu vào năm 1939 và lần thứ hai vào năm 1941. Sau ngày cách mạng tháng 8 thành công, bà là Đại biểu Quốc hội khóa 1 và 2.
Anh vợ của tướng Nguyễn Chánh là Trung tướng Phạm Kiệt là một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa Ba Tơ, ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm cũng từng bị thực dân Pháp bắt và cầm tù tại Ba Tơ, Buôn Ma Thuột…Sau cách mạng tháng 8, ông từng giữ các chức vụ như Cục trưởng Cục Bảo vệ, Tư lệnh của lực lượng Công an vũ trang…Chính ông là người đầu tiên, hiếm hoi trong chiến dịch Điện Biên Phủ đặt nghi vấn về kế hoạch ‘’đánh nhanh thắng nhanh’’ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp dựa trên sự quan sát của ông về cách bố trí pháo binh của ta và quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Con gái ông là Tiến sĩ Khoa học, Viện sĩ Viện hàn lâm chuyên ngành Bách khoa toàn thư Nga, Nguyễn Tuyết Minh. Là người đầu tiên trong nhóm các nhà khoa học Việt Nam được giao nhiệm vụ biên soạn bộ đại từ điển Việt-Nga 3 tập dày 4000 trang.
Sự phát triển tài năng của tướng Nguyễn Chánh có thể nói là trường hợp khá đặc biệt. Ông không hề được đào tạo qua một trường lớp chính quy nào, ngay cả việc học văn hóa ngay từ nhỏ cũng rất hạn chế. Nhưng là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học hỏi. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là ông đã học từ nhà lao Buôn Ma Thuột, khi những nhà cách mạng bị giam ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn đấu tranh, ông đã vận dụng hết sức thành công.
Tướng Nguyễn Chánh là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, vì ông luôn toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp lớn của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Ông là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán nhưng cũng lại là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thuỷ chung với ông, đồng bào. Ông được cán bộ, chiến sĩ, được nhân dân Liên khu 5 hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.
Tướng Nguyễn Chánh là một con người tài hoa. Trong tài hùng biện của ông-mà tất cả những người từng tiếp xúc với ông đều nhớ và cảm phục trong tài năng tập hợp, thu phục lòng người, kể cả nhiều loại trí thức “có cỡ” mặc dù ông đi học ở trường chưa hết bậc phổ thông, ngay cả trong cách xử trí các tình huống khác nhau của ông ở cương vị một người lãnh đạo cao và một vị tướng, nhìn kỹ đều có in dấu chất tài hoa đẹp đẽ ấy.
Tướng Nguyễn Chánh cũng là người rất quan tâm đến báo chí, ông thường hay qua chỗ toà soạn báo liên khu 5, thăm hỏi từng phóng viên, phát biểu những ý kiến chỉ đạo chung đối với tờ báo và nhiều khi đối với từng bài báo. Những ý kiến của ông thường rất nghiêm khắc, cặn kẽ, chứng tỏ ông rất coi trọng vai trò của tờ báo và ông đọc báo rất kỹ. Nhưng cách nói của ông, ngay khi phê phán, vẫn rất ân cần. Ông thường không “chụp” ngay vào những chỗ khuyết điểm, sai sót của những người làm báo trên báo, mà bằng các câu hỏi nhẹ nhàng, khêu gợi cho họ tự thấy ra, cuối cùng chính tự họ rút ra bài học, kết luận. Ông đặc biệt quan tâm đến lực lượng trẻ, là học sinh mới vào bộ đội từ hoàn cảnh gia đình cho đến công tác và sinh hoạt. Ông định hướng động viên, tạo điều kiện cho họ học tập. Ở ông có một sự hiểu biết sâu, một sự đồng cảm đối với những người cầm bút và giới văn nghệ sĩ. Ông thường căn dặn họ ‘’Làm văn học là công việc rất cao quý, nói là thiêng liêng cũng không quá đáng, phải học hỏi rất nhiều. Học trường, học thầy, học trong sách. Nhưng có một cái học hết sức quan trọng không thể thiếu, đó là học hỏi từng trải ở đời’’.
Ông cũng là một người rất am hiểu và ham mê các loại hình văn hóa dân tộc như hát Tuồng, hát Bội. Nhà văn Nguyên Ngọc kể lại rằng, có một lần ông xin các nghệ sĩ đoàn Tuống liên khu 5 cho ông một vai diễn. Không được chấp nhận, ông xin một chân cầm chầu trong đêm diễn. Người cầm chầu phải là người rất am tường về tuồng tích của vở diễn, thế mà Nguyễn Chánh, không hiểu ông đã thuộc tuồng từ bao giờ, buổi diễn hôm ấy, tiếng trống chầu của ông đã làm cho không ít nghệ sĩ phải ngỡ ngàng!
Trước khi mất, tướng Nguyễn Chánh giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục cán bộ Quân đội, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông mất trước khi Nhà nước phong quân hàm cho các tướng lĩnh nên chưa một ngày cầu vai trên áo ông được lấp lánh ngôi sao. Ông là một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhưng không có cấp bậc cụ thể giống như tướng Phùng Chí Kiên. Ông đã đóng góp một cách xuất sắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trên chiến trường Khu V.
Tham khảo : Trang thông tin điện tử tỉnh Quảng Ngãi, Hội Sử học Việt Nam.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:11:25 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:25:22 AM » |
|
Trung tướng Nam Long (8/10/1921-1/7/1999), nguyên Phó Giám đốc Học viện lục quân, nguyên Tư lệnh Quân khu 4, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn, nguyên Tư lệnh Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngày 19/5/2007, Hội sử học Việt Nam đã trân trọng tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam bức tượng đồng của ông.
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất (2) hạng Ba (1), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất Nhì Ba, Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất Nhì Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1981).“…Đồng chí là một trong những cán bộ chủ chốt của quân đội chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân ta - Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, là một trong những người bảo vệ Bác Hồ ở Việt Bắc cho đến khi Bác về Hà Nội…. …Trung tướng Nam Long là một đảng viên tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng: cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thẳng thắn cương trực, luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân, tinh thần đoàn kết dân tộc và thống nhất Bắc - Trung - Nam. Là một cán bộ lãnh đạo: Trung dũng, Kiên cường, Chân thành, Đoàn kết. Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, để lại tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về tài năng lãnh đạo chỉ huy cho các thế hệ đảng viên, cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng của chúng ta”. (Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp) Trung tướng Nam Long tên thật là Đoàn Văn Ưu bí danh là Vũ Nam Long, nhưng đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ vẫn gọi ông một cách trìu mến là tướng Nam Long trước khi ông được phong tướng rất lâu. Ông là người dân tộc Tày quê tại Xã Đề Thám, huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Noi gương người anh họ Hoàng Đình Giong, một cán bộ lãnh đạo Đảng ở Cao Bằng thời ấy, ông sớm giác ngộ từ thuở 15, 16. Được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Dân chủ tháng 2 năm 1937, ông làm liên lạc cho Xã uỷ rồi Tổng uỷ đến năm 1941. Từ năm 1942 đến năm 1944, ông là một trong những thanh niên yêu nước (như Thượng tướng Đàm Quang Trung, Thượng tướng Vũ Lập, Đàm Quốc Chủng, Thu Sơn...) được chọn đi học ở Trường quân sự Hoàng Phố, Liễu Châu (Trung Quốc) để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị khởi nghĩa giành chình quyền. Lớp do ông Hoàng Văn Thái (sau này là Đại tướng) phụ trách. Từ đây, ông đổi tên là Vũ Nam Long. Cuối năm 1943, ông được cử lên Tĩnh Tây hoạt động và lần đầu tiên ông được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Giữa năm 1944, trong không khí cách mạng sục sôi ở vùng Cao - Bắc - Lạng, ông trở về Cao Bằng tham gia lực lượng vũ trang địa phương. Ông cùng với Mai Trung Lâm, Phạm Vĩnh Tường và một người phụ nữ tên là Lạc dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba - Đội trưởng (sau này là Thiếu tướng) , ông Hoàng Sâm - Đội phó l(sau này là Thiếu tướng Liệt sĩ) àm nhiệm vụ bảo vệ đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Tĩnh Tây - Trung Quốc về Pắc Bó - Cao Bằng, chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 10/1944, ông được phân công học lớp huấn luyện ngắn ngày do Việt Minh tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giới thiệu. Học xong, ông được phân công về Hà Giang công tác nhưng cuối cùng ông được phân công ở lại vì nhiệm vụ quan trọng đó là Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân theo sự lựa chọn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Ông được điều lên tham gia đội quân chủ lực đầu tiên của Lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và là Chính trị viên Trung đội 2 (Trong bức ảnh Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, người đứng bên cạnh ông Hoàng Văn Thái cầm cờ, vai đeo ruột ghé gạo chính là ông). Vinh dự tham gia các trận đánh thắng lợi đầu tiên, ông được đề bạt từ cán bộ Tiểu đội lên chỉ huy Trung đội. Ngày 5 tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia xây dựng phong trào Cách mạng ở Hà Giang. Sau khi tham gia "Phong trào Nam tiến", từ tháng 5 năm 1945, ông được điều về phục vụ Bác Hồ, trực tiếp bảo vệ Bác ở Tân Trào cho đến khi Bác về Thủ đô Hà Nội. Cách mạng tháng Tám thành công chưa bao lâu thì quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn. Ngày 26/9, một đơn vị Việt Minh tại Hà Nội đã sát nhập với Chi đội 3 và 4 Quân giải phóng từ Việt Bắc về được lệnh Nam tiến đánh giặc. Khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông nhờ Đại tướng xin cho ông Nam tiến đánh giặc. Vào đến Vinh, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho làm Chính trị viên Chi đội 3 Nam tiến chi viện cho mặt trận phía Nam thay cho ông Nguyễn Văn Rạng đi làm nhiệm vụ khác. Tới Nha Trang ông gặp người anh họ là ông Hoàng Đình Giong (tức Vũ Đức) (sau này hy sinh trong kháng chiến chống Pháp) và được giao cho đem Chi đội 3 vào thẳng phía Bắc Sài Gòn cùng với ông Phúc Thơ (bí danh của ông Mông Văn Vẩy). Vào đến Sài Gòn, ông Phúc Thơ được cử đi giữ chức vụ Ủy viên Quân sự miền Đông Nam Bộ, tướng Nam Long được cử làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Chi đội 3. Chi đội 3 Nam Tiến đã lập được nhiều chiến công, đi vào lịch sử, là đội Nam Tiến đầu tiên được nhân dân Nam Bộ yêu mến đặt tên là "Chi đội Nam Long" và cái tên tướng Nam Long cũng bắt đầu từ đó. Do trang bị thiếu thốn, Chi đội lùi ra Xuân Lộc phối hợp với du kích người Thượng chặn quân địch từ Biên Hòa đánh ra. Tiếp theo, chi đội 3 do tướng Nam Long chỉ huy phối hợp với các đơn vị chi viện từ Bắc vào bao vây quân Nhật giải phóng thị xã Phan Thiết. Sau đó, chi đội Nam Long tiến ra phối hợp với một phân đội của tỉnh Quảng Ngãi cùng với du kích người Chăm, Cờ Ho…tấn công quân Nhật giải phóng thị xã Phan Rang (24/11/1946). Sau hơn 1 tháng chiến đấu, chi đội Nam Long được lệnh về Tháp Chàm củng cố rồi lên Tây Nguyên chặn địch không cho đánh nống ra Ninh Hòa, Plây-ku…Ngày 21/1/1946, chi đội Nam Long được tăng cường cối 81mm và pháo binh, mở cuộc tấn công vào Buôn Ma Thuột. Nhưng vài hôm sau, quân Pháp có xe tăng, đại bác và máy bay tổ chức đánh chiếm lại. Đúng 30 Tết (28-1), chi đội về tập kết ở Đồng Bò để củng cố, rồi về đóng ở sông Cầu-Phú Yên, chặn đánh quân Pháp ở đèo An Khê, sau đó phát triển thành nhiều tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ngày 6/3/1946 được ký kết, ông nhận lệnh ra Bắc làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tiếp phòng quân ở Hải Dương. Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông về làm Trung đoàn trưởng Trung doàn 59, Quân khu Việt Bắc. Trung đoàn 59 đã cùng các đơn vị bạn tích cực đánh địch, bảo vệ An toàn khu Trung ương, góp phần làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của quân Pháp. Tháng 6 năm 1949, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông dẫn một đơn vị của Trung đoàn 59 và các đơn vị phối thuộc vượt biên giới Đông Bắc sang Trung Quốc, tham gia chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn dưới sự chỉ huy của ông Lê Quảng Ba (sau này là Thiếu tướng). Suốt 5 tháng trời chiến đấu trong điều kiện khó khăn gian khổ, bộ đội Việt Nam phối hợp với các đơn vị thuộc Biên khu Việt Quế, diệt nhiều quân Quốc dân Đảng, giải phóng hơn 10 thị trấn và thị tứ thuộc huyện Phăng Thành, góp phần vào sự nghiệp giải phóng của nhân dân Trung Quốc vùng biên giới. Từ cuối năm 1950 đến đầu năm 1953, trong bước chuyển mình từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, ông làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 thuộc Đại đoàn 312. Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn đã tiến đánh thắng lợi một số trận nổi tiếng như Ba Huyên (chiến dịch Trung du), Ba Vì (chiến dịch Hoà Bình), Ba Lay (chiến dịch Tây Bắc). Trải qua rèn luyện, Trung đoàn 141 trở thành một trong những Trung đoàn giỏi đánh công sự vững chắc và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chủ công trong trận đánh Him Lam lịch sử. Từ đầu năm 1953 đến năm 1956, ông lần lượt được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng, Đại đoàn phó rồi Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trên cương vị Tham mương trưởng, Đại đoàn 304 đã bao vây kiềm chế và tiêu hao quân Pháp ở Phân khu Hồng Cúm, không cho quân Pháp chi viện cho khu Mường Thanh, chặn đường tiếp tế và không cho quân Pháp trốn sang Lào. Đồng thời tiêu diệt và bắng sống toàn bộ 2000 quân Pháp ở Hồng Cúm định tháo chạy về Thượng Lào. Chiến công đó đã góp phần vào sự toàn thắng của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ - một trong những trận tiêu diệt lớn và gọn nhất trong lịch sử chiến đấu của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Miền Bắc được giải phóng, ông được cử sang học tập ở Học viện Vô-rô-si-lốp (Liên Xô cũ) từ năm 1956 đến năm 1959. Từ năm 1959 đến 4/1961 - Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Pháo binh. Từ tháng 4/1961 đến 4/1962 - Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn. Từ tháng 4/1962 đến 5/1966 - Phó Tư lệnh rồi Tư lệnh Quân khu 4. Từ tháng 5/1966 đến 4/1973 - Ông được cử vào chiến đấu ở miền Nam trên cương vị Phó Tư lệnh B4. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ông chỉ huy cách quân đánh vào thành phố Huế trong khi người đồng hương của ông là tướng Đàm Quang Trung chỉ huy đánh Quảng Trị. Tháng 4/1975, với tư cách là Đặc phái viên Bộ Quốc phòng, ông cùng các Quân đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và có mặt ở Dinh Độc Lập vào những giờ phút đầu tiên tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh. Suốt từ năm 1974 đến năm 1986, ông là Phó viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng). Từ năm 1989, ông được nghỉ hưu. Tham gia Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ nhất năm 1990, ông là một thành viên tích cực, góp phần vào thành công của Đại hội. Từ năm 1994, ông là Trưởng Ban liên lạc truyền thống Cựu chién binh Sư đoàn 304 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hơn 50 năm hoạt động cách mạng trong đó có đến 45 năm là các bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu thành lập, cuộc đời của tướng Nam Long là một cuộc đời chiến đấu sôi nổi và liên tục. Luôn luôn đi đầu, luôn luôn có mặt ở những nơi chiến sự ác liệt nhất trực tiếp chỉ huy là tác phong quân sự của tướng Nam Long. Hình ảnh tướng Nam Long tại mặt trận Bắc Sài Gòn trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến tại Nam Bộ, mặc chiếc áo đại cán dài bạc màu chiến trận, đầu đội mũ cứng trắng tay cầm ống nhòm trực tiếp quan sát trận địa và chỉ huy chi đội là một hình ảnh đẹp đi vào lòng người đặc biệt là quân và dân Nam Bộ những ngày đầu kháng chiến bằng cách gọi trìu mến ‘’tướng Nam Long’’ và ‘’Chi đội Nam Long’’. Ngay khi quân Pháp theo chân đồng minh tiến vào miền Nam, ông đã chủ động nhờ Tổng tư lệnh xin Bác Hồ cho ông thôi làm bảo vệ Bác vào Nam chiến đấu. Rồi cũng chính ông khi được Bác đồng ý đã theo xe ngay vào ngay Vinh ra nhập đội hình đoàn quân Nam tiến, khi mà quyết định của Tổng tư lệnh mới ở mức độ ‘’lệnh mồm’’, ông đến với đoàn quân Nam tiến trước khi chỉ thị chính thức của Tổng tư lệnh đến với những người chỉ huy Nam tiến tại Vinh . Chính vì vậy, mà ông là một trong những cán bộ quân sự chi viện cho Nam Bộ đầu tiên có mặt tại Sài Gòn những ngày đầu của Nam Bộ kháng chiến. Khi về với cuộc sống bình thường cho đến những năm cuối đời, ông vẫn giữ vai trò đi đầu trong đấu tranh với các tiêu cực trong xã hội. Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:12:10 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:30:45 AM » |
|
 Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên (sinh 1/3/1923), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị (1986 – 1991), nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô, nguyên Tư lệnh Đoàn 559 - Đường Trường Sơn huyền thoại (1967 – 1976), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam (1966) kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương, nguyên Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào, nguyên Chính ủy Quân khu 4, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Việt Minh kiêm Chỉ huy trưởng Bộ đội Quảng Bình, nguyên Đại Biểu Quốc hội khóa 1.
Huân chương Sao vàng (Huân chương cao quý nhất của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) , Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và nhiều huân huy chương khác.
Đại tá (1958), Trung tướng (1974 vượt cấp)Là một trong hai vị tướng được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng (1974) (vị tướng còn lại là Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Ông cũng là vị Tư lệnh lâu năm nhất của Đường Trường Sơn lịch sử từ năm 1967 đến năm 1976 trong đó thời kì từ 1967 đến 1972 là thời kì chống lại chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mĩ lúc ác liệt nhất nhằm đảm bảo chi viện cho miền Nam và 1973 đến 1976 là thời kì kết thúc chiến tranh lúc Đường Trường Sơn phải đảm bảo vận chuyển một khối lượng lớn người và của phục vụ cho trận chiến cuối cùng.. Là một người luôn được giao những nhiệm vụ quan trọng vào những thời điểm quan trọng. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục Xây dựng Kinh tế Quân đội rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải, Bộ trưởng Bộ Xây dựng vào thời điểm Việt Nam sau chiến tranh. Năm 1979, khi chiến tranh Biên giới phía Bắc xảy ra ông được gọi lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô – trái tim thân yêu của Tổ quốc. Ông là một trong các vị tướng của Việt Nam được cả thế giới biết nhiều đến vì tên tuổi của ông luôn gắn liền với Đường Trường Sơn huyền thoại.Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, tên thật là Nguyễn Văn Đồng (chứ không phải là Nguyễn Sĩ Đồng) hay còn gọi là Nguyễn Hữu Vũ sinh tại xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sinh ra trong một gia đình khá giả, cho nên lúc còn nhỏ ông được học cả chữ Quốc ngữ, chữ Hán và cả cả tiếng Pháp. Sáu tuổi bắt đầu đến trường. Bảy tuổi học chữ Hán rồi học chữ quốc ngữ hết bậc tiểu học ở trường huyện, lên tỉnh học tư thục. Là một người có lòng yêu nước, sớm tiếp thu tư tưởng Cách mạng, cho nên khi đang học năm thứ 3 bậc Thành trung tại trường Xanh Ma-ri ở Thị xã Đồng Hới ông bị thực dân Pháp truy nã vì những hoạt động ‘’chống đối’’ và được Xứ ủy Trung Kỳ tổ chức thoát ly sang Thái Lan. Ở Thái Lan, ông tích cực tham gia phong trào của Việt Kiều yêu nước Thái Lào. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Năm 1944, trước tình thế cách mạng mới, phát xít Nhật tấn công Pháp ở Đông Duơng, ông trở về nước hoạt động bí mật phụ trách phủ ủy Quảng Trạch, chủ nhiệm Báo Hồng Lạc và xây dựng Chiến khu Trung Thuần. Trong thời gian này ông còn tham gia huấn luyện quân sự chuẩn bị cho cách mạng tháng tám. Sau cách mạng tháng tám 1945, ông giữ chức Bí thư huyện ủy Quảng Trạch kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1946, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa 1 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công làm Chính trị viên kiêm Chỉ huy trưởng Tỉnh đội Quảng Bình. Thời kì này, Quảng Bình là một địa bàn lực lượng của ta tương đối yếu lại xa Trung ương vị trí lại nằm giữa khu 4 và khu 5, thực dân Pháp ra sức bình định. Bên cạnh những hoạt động quân sự, thực dân Pháp còn sử dụng lại chiêu bài Đạo thiên chúa, trước kia người Pháp sử dụng rất thành công khiến triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng dâng đất. Thông qua tên phản động tay sai Cơ đội lốt Đạo thiên chúa, lợi dụng sự cả tin và sự nghèo khó của người dân Quảng Bình (thế mới có câu Theo đạo có gạo mà ăn), thực dân Pháp đã tạo ra được một đội ngũ chỉ điểm, tay sai. Kháng chiến chống Pháp trên địa bàn Quảng Bình vì thế hết sức khó khăn. Năm 1948, ông đã táo gan chỉ huy vào tận sào huyệt diệt gọn đầu sỏ nhóm phản động này. Sau trận đánh này ông bị thực dân Pháp truy lùng hết sức gắt gao. Ông đổi tên thành Nguyễn Hữu Vũ. Năm 1950, ông được điều lên Việt Bắc tham gia lớp học trung cao Quân sự rồi được điều về Bộ Tổng tham mưu. Năm 1953, để phục vụ cho Chiến dịch Đông Xuân (1953-1954) đại đoàn 325 phối hợp với bộ đội Itsala (Nhân dân) Lào tiến công giải phóng đến tận ba biên giới, đây là chiến trường hết sức quan trọng của khu 5 vì nó bảo đảm sự nối liền của ba nước trên bán đảo Đông Dương. Để đảm bảo chắc thắng hướng chiến lược, Tổng tư lệnh cử đoàn phái viên thị sát chiến dịch do ông đại diện Bộ tổng tham mưu phụ trách. Với phong cách sâu sát, cẩn thận của mình, ông đã trực tiếp đến từng tiểu đoàn, đại đội hỏa lực xem xét, chấn chỉnh…Thắng lợi của chiến dịch này góp phần không nhỏ vào Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Sau năm 1954, ông trở về Bộ tổng tham mưu, phụ trách Cục Động viên dân quân. Năm 1961, ông được cử sang Trung Quốc học Trường cao cấp Quân sự Bắc Kinh. Năm 1964 về nước ông được cử giữ chứ Phó Tổng tham mưu trưởng. Chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất 1965, ông được cử vào làm Quân khu 4 làm Chính ủy Quân khu. Sau đó, được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Trung và Hạ Lào. Cuối năm này ông bị thương và phải về Hà Nội điều trị. Đầu năm 1966, ông được cử giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần tiền phương thực hiện nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường của ta và hai nước Lào và Cam-pu-chia ở phạm vi Nam Đông Dương. Vào thời điểm Mỹ tập trung đánh phá mạnh đường chiến lược Trường Sơn, nhằm cắt đứt con đường huyết mạch Bắc Nam, để đối phó với âm mưu và thủ thuật chiến tranh mới của đế quốc Mỹ bảo đảm liên tục chi viện Bắc Nam, ông được cử vào làm Tư lệnh Đường Trường Sơn cho đến năm 1976. Bộ đội Trường Sơn thời kì này dưới sự lãnh đạo của ông đã làm thất bại âm mưu lập hàng rào điện tử Mắc-ma-na-ma (Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thời kì đó), thất bại chiến tranh phá hoại đồng thời góp phần đánh bại các âm mưu lấn chiếm bảo vệ vững chắc con căn cứ hậu cần tiền phương của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, ông được cử giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách Tổng cục xây dựng kinh tế tham gia khắc phục hậu quả của chiến tranh phát triển kinh tế đất nước. Tiếp sau đó, ông được chuyển sang ngạch dân sự lần lượt giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải rồi Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Ông có những góp phần không nhỏ trong việc khôi phục và phát triển giao thông vận tải Việt Nam sau thời chiến (đường xá, cầu cống…). Chiến tranh Biên giới phía Bắc nổ ra, năm 1979, ông được điều lại Quân đội giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Thủ đô. Ông là Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV. Năm 1982, ông là Ủy viên dự khuyết Bộ chính trị khóa V. Từ năm 1986 đến năm 1991, thời kì Đổi mới, ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Năm 1992, ông thôi các chức vụ trong Đảng và Chính phủ và được giao làm Đặc phái viên Chính phủ đặc trách chương trình 327 về Phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Rồi là Cố vấn đặc biệt của Chính phủ tham gia ban chỉ đạo nhà nước về Đường Trường Sơn thời kì đổi mới. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là một con người của những ý tưởng không ngừng, người ta gọi ông là ông Nhất dạ sinh bá kế, trong suốt thời kì giặc Mỹ leo thang đánh phá ác liệt Đường Trường Sơn, khi không quân Mỹ phát hiện ra cung đường vận chuyển này để đánh phá thì ông kịp thời chỉ đạo vận chuyển trên cung đường khác hay xây dựng cung đường khác…Đường Trường Sơn thực sự trở thành một ‘’ trận đồ bát quái xuyên rừng rậm’’ (Theo giới truyền thông phương Tây) đối với không quân Mỹ, với hai trục chính là Đường Trường Sơn Đông rồi Đường Trường Sơn Tây và hàng loạt các cung đường trách bom, đường cua, hệ thống đường xương cá…
Điều khiển con đường Trường Sơn với chiều dài 1000 cây số, như một mê cung, cùng với một lượng lớn bộ đội và Thanh niên xung phong (có lúc lên tới trên 10 vạn), trang thiết bị chiến tranh, hệ thống thông tin và ống dẫn dầu Bắc Nam…Đòi hỏi ở vị Tư lệnh một tầm quản lí, chỉ huy, phối hợp tốt và đặc biệt có sự hiểu biết rộng trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt trong thời chiến, trước những thời cơ đòi hỏi người chỉ huy những quyết định chính xác, dứt khoát và nhất quán. Cũng chính về những phẩm chất này cùng những kinh nghiệm về xây dựng đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ mà sau ngày đất nước thống nhất ông lại được cử làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng rồi Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải rồi bây giờ khi đã ngoài 80 tuổi là Đặc phái viên của Chính phụ phụ trách Đường Trường Sơn công nghiệp hóa.. Những đóng góp của ông vào việc phục hồi, xây dựng, kiến thiết hệ thống cơ sở hạ tầng nứoc ta sau thời chiến là không nhỏ.
Cũng có người nói ông là người bảo thủ, điều đó không đúng. Là một người quả quyết, và táo bạo dám nghĩ dám làm, ông đưa ra ý kiến, ý tưởng của mình và bảo vệ nó đến cùng bới chúng là đúng đắn. Hãy thử xem những quyết định của ông khi điều hành Đường Trường Sơn, hay những quyết định chính xác khi phá tan hàng rào điện tử Măc-ma-ra-ma, hay sự đúng đắn về việc xây dựng cầu Chương Dương bằng sắt phế liệu, thu gom từ dân, một cây cầu do kĩ sư Việt Nam làm từ khâu thiết kế đến khâu thì công. Một công việc mà lúc ông đề xuất ra nhiều người bảo là viển vông và cho rằng ông bảo thủ cái ý kiến viển vông của mình khi tiến hành xây dựng cầu. Và thực tế hoạt động của cầu Chương Dương cho đến này là một minh chứng hùng hồn về việc ông đúng. Hay trong thời kì đổi mới, Hải Phòng là đơn vị đi đầu ở nước ta trong việc đổi mới những vấn đề như : khóan trong nông nghiệp, bỏ tem phiếu, xóa bỏ chế độ bán gia cầm, lợn cho nông dân…Ông cũng là một trong những lãnh đạo cao cấp đầu tiên ủng hộ, bật đèn xanh cho sự đổi mới này.
Bạn bè và cấp dưới ai cũng thừa nhận Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên là một con người của hành động, con người của thực tiễn, ông ít lí luận, không ưa hình thức và đã nói là làm không thích dài dòng và ông ít nói. Sống theo diễn biến khách quan, hành động phù hợp theo điều kiện chủ quan và hết sức cẩn thận. Nếu bạn muốn tìm một ai đó để trình bày những ý tưởng, ý kiến của mình thì một trong những người thích hợp là Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên. Khi bạn trình bày ông ngồi im lặng lắng nghe không ngắt giữa chừng, không xen ngang. Nếu bạn đúng thì ông sẽ chỉ bảo là ‘’cứ làm đi’’ nếu sai thì sẽ nói cho bạn biết vì sao ông không đồng tình…
Là người có dán người cao to, cái bụng ‘’phệ’’, nhìn khuôn mặt ông nhiều người nghĩ ông lạnh lùng nhưng ông lại là một người rất quan tâm đến người khác. Quan tâm bằng hành động cụ thể chứ không phải lời nói. Quan tâm đến người dân miền núi trên đường Trường Sơn thời chiến thậm chí quả bồ kết cho nữ thanh niên xung phong thời chiến đến việc dựng vợ, gả chồng, cất nhà hay làm kinh tế của cấp dưới trong thời bình, có việc gì họ cũng mời, cũng hỏi ý kiến ông, cũng cho người đón ông. Ông luôn là tư lệnh kính mến của họ trong thời chiến cũng như thời bình. Hãy nhớ rằng khi ông ‘’khịt, khịt mũi’’ là khi ông muốn nói điều gì đó, hay là lúc ông đưa ra ý kiến của mình.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:28:50 AM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
panphilov
Thành viên

Bài viết: 774
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 03:35:11 AM » |
|
Trung tướng Anh hùng Đồng Văn Cống (Bẩy Cống) (tháng 2 năm 1918 - 13h10' ngày 6 tháng 8 năm 2005), nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VI, nguyên Phó Tổng thanh tra Quân đội, nguyên quyền Tư lệnh Quân khu 7, nguyên Tư lệnh Quân khu 8, nguyên Tư lệnh Quân khu 9, nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền nam Việt Nam, nguyên Phó Tư lệnh Quân khu Hữu ngạn.
Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang ngày 6 tháng 8 năm 2011.
Đại tá (1958), Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980).Trung tướng Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre trong một gia đình nông dân. Ông cố ông quê ở Vinh Phúc, vì điều kiện mưu sinh mà năm Tự Đức thứ 2 đã di cư vào Nam làm thuê kiếm sống. Ông nội và cha ông đa phải đi ở đợ làm tá điền cho địa chủ. Nhờ ông ngoại là một trung nông, nên khi cha mẹ ông lấy nhau, ông ngoại ông đã mua cho ruộng đất, làm lụng đủ ăn. Nhờ là con trai út nên ông được gia đình cho ăn học, chẳng bao lâu bố mẹ ông qua đời lên ông phải nghỉ học ở nhà cày cấy, rồi được giác ngộ tham gia cách mạng năm 1936. Năm 1945, làm Bí thư chi bộ kiêm Tổng ủy viên Việt Minh, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương. Tháng 2-1946, giặc Pháp đánh chiếm Bến Tre, ông phụ trách trưởng ban quân sự xã, đã tổ chức tiểu đội du kích đánh địch nhiều trận, chỉ sau 3 tháng đã phát triển lực lượng thành một trung đội với hơn 20 cây súng các loại. Cái tên "bộ đội Tân Hào" ra đời từ đấy. Trong những trận phục kích đánh địch của “bộ đội Tân Hào", chiến thắng nổi tiếng lúc bấy giờ là trận Bàu Dơi, đã được thơ ca dân gian truyền tụng đến tận ngày nay. Sau hơn một năm chiến đấu trên chiến trường quê hương, với phương châm tự lực cánh sinh, lấy súng giặc trang bị cho lực lượng của ta, Đồng Văn Cống đã đưa đơn vị từ trung đội phát triển thành đại đội, tiểu đoàn, rồi tiến lên trung đoàn. Đơn vị của ông phát triển sớm nhất và mạnh nhất ở tỉnh Bến Tre cũng như toàn khu 9. Sau đó cấp trên giao cho ông đi thuyết phục mọi người tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do ông làm Chi đội trưởng, hoạt động ở Bến Tre Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở Trà Vinh và Vinh Long. Trung đoàn đầu tiên của Bến Tre do ông làm Trung đoàn trưởng được thành lập vào tháng 7-1947 mang tên trung đoàn 99. Chính đơn vị này về sau đã đóng vai trò nòng cốt của trung đoàn chủ lực khu 8, mang tên trung đoàn Đồng Tháp. Đầu năm 1951, khi quân của Léon Leroy lấn chiếm và bình định Bến Tre, gây cho ta nhiều tổn thất nghiêm trọng, ông được Bộ tư lệnh khu 8 điều về làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre và đã góp phần quan trọng trong việc củng cố, xây dựng lại LLVT của tỉnh lúc bấy giờ. Tháng 10-1953, được cử đi dự lớp chỉnh huấn do Trung ương mở tại Liên khu 5. Sau khi hiệp định Genève, được cử vào ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, trực tiếp lo việc tập kết của bộ đội Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp ông chỉ huy chiến dịch Bến Tre từ 3 đến 31 tháng 7 năm 1950 rồi chiến dịch Sa Đéc Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951 mà ông là chỉ huy trưởng cánh Long Châu Tiền. Trứoc khi tập kết ra Bắc, ông là Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên thường vụ trực của Quân khu miền Đông. Đầu năm 1955, được đề bạt Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330, với quân hàm Đại tá (1958). Tháng 6-1960, được cử đi học ở Học viện Quân sự Nam Kinh (Trung Quốc), đến đầu năm 1962 thì về nước và đã trải qua những chức vụ sau đây: Tư lệnh phó quân khu 3, Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III, Cục phó Cục tác chiến Bộ Quốc phòng, kiêm Trưởng phòng chuyên trách công tác chi viện cho chiến trường miền Nam: lo tổ chức, củng cố đường 559A, 559B (tức con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên Trường Sơn và trên biển). Đường Hồ Chí Minh trên biển được tổ chức hết sức bí mật, ở Bộ Chính trị chỉ có các ông Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết, còn ở Bộ Quốc phòng thì có các ông Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dung, Nguyên Văn Vịnh, Trần Văn Trà biết. Đầu năm 1963, trở về Nam, làm Trưởng ban quân sự khu 9, về sau là Bộ tư lênh quân khu 9 (1964). Năm 1969, Chính phủ CMLTCHMNVN thành lập, ông được cử làm Tư lệnh phó Bộ Tư lệnh miền Nam (1965-1972). Sau hiệp định Paris (1973), làm Tư lệnh khu 8 (Tháng 10-1972 đến 1975). Cuối năm 1974, làm Tư lệnh phó Bộ tư lệnh miền Nam, phụ trách hậu cần, chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Trong kháng chiến chống My ông là chỉ huy hay phó chỉ huy các chiến dịch: xẻo rô phá ấp chiến lược 1963, Chiến dịch Đông Bắc Cam-pu-chia 1971 giải phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn, Chen La Hay cuối 1971 tiêu diẹt và làm tan rã lực lượng nòng cốt của quân đội Lon Nol, chiến dịch tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long giữa 1972 mở thông biên giới Tây Nam, chiến dịch Nguyên Huệ 1972-1973 giải phóng Lộc Ninh và biên giới khu 8, chiến dịch Phước Long đợt 2 năm 1974... Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Từ tháng 5-1976 đến tháng 9-1982 là phó tư lệnh Quân khu 7, rồi quyền tư lệnh Quân khu 7 thay cho tướng Trần Văn Trà ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, ông là Tư lệnh tiền phương Quân khu cùng với 2 phó Tư lệnh là Năm Ngà và Năm Thanh đưa một cánh quân sang giúp bạn thoát khỏi nạn diệt chủng. Về nước ông tiếp tục làm Tư lệnh Quân khu cho đến tháng 10 năm 1981, được điều ra Hà Nội làm Phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam với cấp bậc Trung tướng. Tháng 10-1982 được bổ nhiệm là phó tổng thanh tra Quân đội nhân dân VN. Trung tướng Đồng Văn Cống là đại biểu Quốc hội khóa VI. Hơn 40 năm phục vụ trong LLVT, từ một du kích xã trở thành một sĩ quan cao cấp, Trung tướng Đồng Văn Cống luôn luôn biểu lộ phẩm chất cao đẹp của người lính cách mạng. Ông không chỉ là người có công xây dựng LLVT đầu tiên của tỉnh Bến Tre, mà còn có nhiều đóng góp trong công cuộc tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam cũng như xây dựng Lực lượng vũ trang trong Kháng chiến chống Pháp và Kháng chiến chống Mỹ.
Trung tướng Đồng Văn Cống sinh ra tại Giống Trôm, Bến Tre, đây cũng là quê hương của nữ tướng Nguyễn Thị Định. Giồng Trôm nói riêng và Bến Tre nói chung vốn là vùng đất "đắc địa", quê hương của rất nhiều danh nhân lịch sử cũng như anh hùng và các nhân vật cách mạng nổi tiếng - một vùng quê có truyền thống yêu nước.
Người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong những năm tháng kháng chiến thường gọi ông là "ông tướng bưng biền" và "ở đâu có ông Cống là ở đó có đánh lớn". Bộ đội Tân Hào hay Bộ đội ông Cống nổi tiếng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Tài năng quân sự ở ông là sự kết hợp của nghệ thuật chỉ huy - khả năng tổ chức - sự gan dạ vốn có của một vị tướng trưởng thành từ một "du kích xã". Ông còn là một người hài hước, dí dỏm. Ngày 30 tháng 7 năm 2010, đền thờ ông đã được khánh thành tại quê hương Tân Hào với sự có mặt của Chủ tịch nước cùng đông đảo người dân Bến Tre. Đây là công trình dựa trên sự đóng góp của người dân Bến Tre ở khắp nơi, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cùng Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre. Tham khảo: Trang thông tin điện tử Bến Tre, Báo Thanh niên.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:13:03 PM gửi bởi panphilov »
|
Logged
|
''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
|
|
|
|