Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Bảy, 2019, 09:13:41 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Tập 4  (Đọc 95991 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« vào lúc: 05 Tháng Tư, 2010, 09:55:03 PM »

Tên sách: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Tập 4
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 1999
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



CHỦ BIÊN:
Đại tá NGUYỄN VĂN MINH

TÁC GIẢ:
Đại tá ĐỖ XUÂN HUY
Thượng tá TRẦN TIẾN HOẠT
Trung tá NGUYỄN XUÂN NĂNG
Trung tá NGUYỄN HUY THỤC
Thượng tá PTS. HỒ KHANG



LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Bằng tiền bạc, vũ khí, trang bị hiện đại, cùng với đội ngũ cố vấn lành nghề, dựa vào quân đội, chính quyền Sài Gòn và hệ thống ấp chiến lược để tiến hành cuộc chiến tranh đặc biệt chống nhân dân ta, đế quốc Mỹ hy vọng giành thắng lợi, áp đặt chế độ thực dân mới lâu dài trên đất nước ta. Nhưng chúng đã thất bại thảm hại khi phải đương đầu với cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn của nhân dân Việt Nam, trong đó quân chủ lực ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Đến mùa hè năm 1965, với các trận thắng ở Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài của Quân giải phóng, chiến lược chiến tranh đặc biệt đã thất bại, chế độ tay sai và quân đội Sài Gòn do Mỹ nuôi dưỡng, trang bị, huấn luyện và chỉ huy lại đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Nước Mỹ sen đầm không dễ dàng chấp nhận thất bại, liền thay đổi chiến lược, tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ, trực tiếp đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào chiến trường miền Nam tham chiến, dùng không quân và hải quân đánh phá dữ dội miền Bắc. Đây là bước leo thang chiến tranh rất nghiêm trọng, đặt cả một dân tộc và chế độ xã hội mới do nhân dân ta lựa chọn trước thử thách hiểm nghèo.

Bằng kinh nghiệm và truyền thống của nhiều nghìn năm đánh giặc, nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo đầy thao lược của Đảng và Bác Hồ đã bình tĩnh, chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử một cách chủ động, kiên quyết.

Hai cuộc đọ sức trực tiếp ở Núi Thành và Vạn Tường với quân viễn chinh Mỹ, Quân giải phóng miền Nam đã giành thắng lợi. Kết luận đầu tiên được khẳng định: chúng ta hoàn toàn có thể đánh được Mỹ và đánh thắng chúng trong cuộc chiến tranh này. Vấn đề nan giải nhất khi bước vào cuộc đọ sức đã được thực tế chiến trường minh chứng.

Khi có trong tay đội quân viễn chinh đông tới hàng trăn ngàn tên, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Sài Gòn ra tay hành động bằng cuộc phản công chiến lược thứ nhất vào mùa khô 1965-1966, cùng một lúc đánh ra các hướng từ Đông Nam Bộ, tới khu V. Ngay một năm sau đó, quân viễn chinh Mỹ mở rộng cuộc phản công chiến lược lần thứ hai vào mùa khô 1966-1967, với trận càn Gianxơn Xity đánh vào căn cứ đầu não của Trung ương Cục miền Nam.

Với hai chiến dịch quân sự quan trọng này, đế quốc Mỹ hy vọng bằng sức mạnh khổng lồ của đội quân viễn chinh đông đảo với vũ khí, trang bị rất hiện đại có thể nhanh chóng tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam, đánh phá các căn cứ du kích, yểm trợ tối đa cho chương trình bình định do quân đội và cảnh sát Sài Gòn đảm trách, thực hiện thắng lợi kế hoạch chiến lược: tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt.

Đồng thời với những chiến dịch phản công lớn ở miền Nam, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc bằng việc dùng không quân và hải quân đánh phá dữ dội vào khu IV, cũng như các tỉnh khác, đặc biệt là hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng, nhằm làm cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa kiệt quệ, cắt đứt con đường huyết mạch chi viện cho cách mạng miền Nam.

Đế quốc Mỹ cố tình quên những bài học lịch sử, chúng đã phải đối đầu với cả một dân tộc đứng lên làm chủ vận mệnh của mình được tổ chức tốt và vũ trang toàn dân, từng bước đánh thắng chúng.

Tập IV của bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) mang tiêu đề Cuộc đụng đầu lịch sử gồm năm chương, từ chương 14 đến chương 18, trình bày những sự kiện lịch sử của những năm tháng khốc liệt (1965-1967) nhưng rất hào hùng đó của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Các sự kiện trong tập sách được trình bày một cách chân thực theo phương pháp lịch sử và lôgíc dựa trên một nền tảng tư liệu phong phú và tin cậy. Cách thức thể hiện các sự kiện lịch sử khá nhuần nhuyễn.

Xuất bản tập IV: Cuộc đụng đầu lịch sử của bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia mong muốn góp phần thiết thực chào mừng kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam quang vinh và ngày quốc phòng toàn dân năm nay.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

   
Ngày 20 - 11 - 1999
   NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2010, 10:26:33 PM »


CHƯƠNG 14
CHIẾN TRANH CỤC BỘ - ĐỈNH CAO CỦA CUỘC ĐỤNG ĐẦU LỊCH SỬ GIỮA NHÂN DÂN VIỆT NAM VỚI ĐẾ QUỐC MỸ



I- ĐẾ QUỐC MỸ ĐƯA QUÂN TRỰC TIẾP XÂM LƯỢC VIỆT NAM


Tiến hành chiến lược chiến tranh hạn chế, dưới hình thức một cuộc chiến tranh đặc biệt để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta, Mỹ tin tưởng sẽ giành được thắng lợi không mấy khó khăn. Theo tính toán của Nhà Trắng và Lầu Năm góc, thì với chiến lược này, Mỹ có thể tạo ra ưu thế trong cuộc chiến tranh và chủ động lựa chọn các cuộc tiến công quy mô lớn, vừa và nhỏ trong mọi thời gian, không gian và thời tiết mà đối phương không thể biết trước để đối phó. Song, từ sau trận Ấp Bắc năm 1963 đến các trận Bình Giã, An Lão, Đèo Nhông năm 1964 thì nỗi thất vọng của các quan chức Nhà Trắng và Lầu Năm góc Mỹ càng tăng, vì đây là bằng chứng báo hiệu nguy cơ sắp sụp đổ của chính quyền tay sai Mỹ ở Sài Gòn và khả năng giành và củng cố quyền lực của lực lượng cách mạng miền Nam đã rõ ràng. Bởi vậy, trong chính quyền Oasinhtơn rộ lên những lời cảnh báo mới về sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. John A.Mc. Cone - Giám đốc Cục tình báo Trung ương Mỹ cho rằng: “Chúng ta (Mỹ) sẽ bị sa lầy trong cuộc chiến đấu ở rừng rậm, với một cố gắng quân sự mà ta (Mỹ) không thể giành thắng lợi được và cũng rất khó lòng rút ra được”1. Các quan chức trong chính quyền Mỹ đều thống nhất đánh giá tình hình Nam Việt Nam đang xấu đi, Chính phủ Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn, phần lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hoà ngày càng bị thu hẹp. Đế quốc Mỹ cho rằng nếu Mặt trận Dân tộc giải phóng chiếm Nam Việt Nam, thì “không những chỉ phá hoại khối SEATO mà còn sẽ phá hoại lòng tin vào những cam kết của Mỹ ở những nơi khác”2. Nguyên nhân thất bại này được các quan chức chủ chốt ở Nhà Trắng và Lầu Năm góc kết luận là do “Cộng sản miền Bắc xúi giục, chỉ huy”. Bởi vậy, “Mỹ phải cam kết thực hiện mục tiêu ngăn ngừa chủ nghĩa cộng sản”3 bằng cách ném bom miền Bắc Việt Nam, kết hợp với đưa dần một bộ phận quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam.

Quá trình tính toán các phương án leo thang chiến tranh, trong hai viện của Quốc hội Mỹ có một số ý kiến do dự hoặc không tán thành, họ gợi ý chính quyền nên tìm giải pháp ngoại giao, thương lượng, nhưng những tiếng nói lừng chừng hoặc không đồng tình này bị rơi vào im lặng. Những nhân vật “diều hâu” chủ chốt trong chính quyền L. Giônxơn cho rằng việc ném bom miền Bắc Việt Nam trong chừng mực nào đó sẽ làm cho Việt cộng bớt hoạt động, thì dù chính quyền của Khánh ít có hiệu lực cũng có thể đối phó được với tình hình Nam Việt Nam đang xuống dốc. Ý kiến này phù hợp với quan điểm của Tổng thống Mỹ đương nhiệm, nên nó càng được khuếch trương mạnh mẽ trong hai viện của Quốc hội Mỹ. Lúc này đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Mx.Taylo điện về Oasinhtơn báo cáo tình hình Nam Việt Nam rất nguy ngập và gợi ý “một cuộc ném bom có phối hợp cẩn thận” chống miền Bắc Việt Nam được Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân tán đồng, càng làm cho phe hiếu chiến ở Mỹ thắng thế. Mc.Nâutơn Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh được giao nhiệm vụ vạch kế hoạch cụ thể khiêu khích miền Bắc, nhằm “tạo lý do tốt cho chúng ta (Mỹ) leo thang nếu chúng ta (Mỹ) muốn”4.

Thực hiện âm mưu khiêu khích này, mùa Đông 1964 và mùa Xuân 1965, Tổng thống Mỹ L.Giônxơn ra lệnh đẩy mạnh hoạt động không quân ở Lào, tiến hành trinh sát, ném bom các mục tiêu nghi có quân đội Việt Nam và Pathét Lào đóng quân; đồng thời lôi kéo Coong Le và phái hữu Lào phá hoại làm tan vỡ chính phủ liên hiệp ba phái ở Lào, đạo diễn cho Phumi Nôxavẳn yêu cầu các nước trong khối SEATO can thiệp... Ở Việt Nam, Mỹ mở cuộc tiến công mang mật danh 34A và các cuộc tuần tra Desoto ở Vịnh Bắc Bộ, coi đó là áp lực quân sự không công khai chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong sáu tháng trước khi xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, không quân và hải quân Mỹ tiến hành các hoạt động trinh sát và khiêu khích miền Bắc Việt Nam, đồng thời Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ soạn thảo trước kế hoạch mở rộng chiến tranh để tranh thủ Quốc hội ra nghị quyết trao quyền cho Tổng thống sử dụng lực lượng vũ trang Mỹ đối phó với cuộc khủng hoảng ở Việt Nam, mà chính quyền L.Giônxơn “coi là tương đương với một lời tuyên chuyến”5. Song, qua bốn tháng ném bom “bí mật” miền Bắc (kể từ ngày 5-8-1964), Mỹ không đe doạ được nhân dân ta, không ngăn chặn được sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam. Những cuộc tiến công của lực lượng vũ trang giải phóng vào các căn cứ Mỹ và quân đội Sài Gòn quy mô ngày càng lớn, khiến cho chính quyền Sài Gòn lâm vào cảnh hỗn độn có nguy cơ sụp đổ nhanh. Để cứu chính quyền Sài Gòn, thực hiện âm mưu giữ Nam Việt Nam trong quỹ đạo của Mỹ, biến nơi này thành tiền đồn chống cộng ở Đông Nam châu Á, Tổng thống L.Giônxơn chỉ thị cho nhóm nghiên cứu liên Bộ Quốc phòng và Ngoại giao do Uyliam Bânđi, Thứ trưởng Ngoại giao điều khiển thảo luận, vạch phương pháp lựa chọn cho chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Nhóm này nêu ba phương thức lựa chọn:

- Phương thức lựa chọn A: tiến hành oanh tạc trả đũa Bắc Việt Nam, tăng cường các cuộc tiến công ở ven biển theo kế hoạch 34A, tiếp tục cho khu trục hạm tuần tra ở Vịnh Bắc Bộ, đẩy mạnh oanh tạc các mục tiêu thâm nhập ở Lào bằng máy bay T.28 và tìm cách thi hành các cải cách ở Nam Việt Nam.

- Phương thức lựa chọn B: ném bom Bắc Việt Nam với nhịp độ nhanh chóng và dữ dội, kể cả việc oanh tạc sân bay Phúc Yên gần Hà Nội và các cầu quan trọng dọc theo đường ô tô và đường sắt nối liền với Trung Quốc cho đến khi những yêu sách của Mỹ được đáp ứng đầy đủ.

- Phương thức lựa chọn C: phương thức “bóp nghẹt dần dần”, đánh các mục tiêu thâm nhập trước hết ở Lào rồi ở Bắc Việt Nam, tiếp đó đến các mục tiêu khác ở Bắc Việt Nam. Phương thức này gồm cả khả năng Mỹ triển khai quân bộ ở phía bắc Nam Việt Nam, coi như một con bài để mặc cả.
______________________________________
1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, Hà Nội, 1971, t.2, tr 57.
2, 3. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, Hà Nội, 1971, tập 1, tr. 144.
4. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, Tlđd, t.2, tr.28.
5. Sau này thành Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, Xem Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, t.3, Đánh thắng chiến tranh đặc biệt, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2010, 10:29:26 PM »


Ngày 24-11-1964, Uỷ ban chọn lọc của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ họp thảo luận về những phương thức lựa chọn để chính thức trình lên Hội đồng. G.Bônlơ, Thứ trưởng Ngoại giao tỏ ý “không tin tưởng” các cuộc ném bom và cho rằng Việt cộng chiến thắng ở miền Nam có thể ảnh hưởng đến sự sụp đổ đối với phần đất còn lại ở châu Á theo thuyết đôminô. G.Bônlơ gợi ý một chiến lược ngoại giao thông qua nước Anh, rồi nước Anh sẽ hợp tác với Liên Xô để dàn xếp vấn đề Việt Nam qua một cuộc hội nghị quốc tế để vạch ra một giải pháp chính trị thoả hiệp cho Nam Việt Nam. Nhưng liền sau đó G.Bônlơ lại tán thành phương thức lựa chọn A. Còn Mx.Nâutơn, W.Bânđi thì cho rằng nếu ném bom Bắc Việt Nam mà không cứu vãn được Nam Việt Nam, Mỹ “có thể có uy tín quốc tế chỉ vì cố gắng làm”. Tướng Vếchlơ, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân phân tích phương thức lựa chọn B: ném bom nhanh chóng và dữ dội ít gây ra nguy cơ của một cuộc xung đột lớn trước khi Mỹ đạt được thắng lợi hơn là ném bom dần dần theo phương thức lựa chọn C. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân không tán thành ném bom dần dần có tính toán, mà “phải đánh mạnh vào khả năng của Bắc Việt Nam”1, Mỹ phải “bày tỏ sẵn sàng dùng sức mạnh không hạn chế”2. Cơ quan tình báo Mỹ thì “có xu hướng theo quan điểm bi quan”3. Trong cuộc họp về tình báo thuộc nhóm công tác của W.Bânđi, gồm đại diện cơ quan tình báo CIA, Văn phòng tình báo và nghiên cứu thuộc Bộ Ngoại giao, Cục tình báo quốc phòng của Lầu Năm góc đều nhận thấy khó có “khả năng tốt để phá vỡ ý chí của Hà Nội”4 trong việc ném bom, v.v....

Mặc dù có những ý kiến khác nhau về phương thức lựa chọn, về mức độ, biện pháp, song những nhân vật chủ chốt trong chính quyền Mỹ đều thống nhất quan điểm ném bom miền Bắc Việt Nam sẽ là đòn bẩy làm cho chính quyền Sài Gòn ổn định, nâng cao tinh thần cho quân đội Việt Nam Cộng hoà tiếp tục cuộc chiến tranh. Tính toán các phương thức lựa chọn, Nhà Trắng và Lầu Năm góc cũng tính đến khả năng can thiệp của Liên Xô, Trung Quốc - nhất là Trung Quốc, khi Mỹ ném bom lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính quyền Hoa Kỳ hiểu rằng việc sử dụng bạo lực quân sự chống nhân dân Việt Nam là hành động rất mạo hiểm, có thể xảy ra những hiểm hoạ mà các quan chức Mỹ chưa lường định hết, trong đó khả năng phản ứng của Liên Xô, Trung Quốc là điều đáng sợ và lo ngại nhất của Mỹ. Nhưng Cục tình báo Trung ương Mỹ sau khi điều tra nghiên cứu tình hình Liên Xô, Trung Quốc, đã cho rằng chủ nghĩa xét lại hiện đại ở Liên Xô và cuộc đại cách mạng văn hoá vô sản ở Trung Quốc đang làm cho hai nước này gặp rất nhiều khó khăn. Theo dõi chính sách của Liên Xô đối với Việt Nam, Cục tình báo Trung ương Mỹ cho rằng dưới thời Khơrútxốp, Liên Xô chỉ ủng hộ Việt Nam trên lĩnh vực tuyên truyền, còn viện trợ kinh tế, quân sự ít ỏi chưa đáp ứng được yêu cầu của Việt Nam. Khi Brêgiơnhép và Côxưghin lên nắm quyền thì sự giúp đỡ về vật chất, vũ khí - kỹ thuật quân sự của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng được tăng lên. Tuy vậy, chính sách của những người lãnh đạo mới của Liên Xô trong một vài năm tới đối với Việt Nam vẫn có giới hạn. Còn Trung Quốc nước láng giềng gần gũi với Việt Nam, nhưng đang làm cuộc đại cách mạng văn hoá vô sản, cho nên “Trung Quốc sẽ không phản ứng theo bất kỳ cách nào đối với chiến dịch ném bom, trừ phi quân Mỹ hoặc Nam Việt Nam xâm lược miền Bắc Việt Nam hoặc miền Bắc Lào... Phản ứng của Trung Quốc đối với cuộc ném bom có hệ thống Bắc Việt Nam chắc sẽ có giới hạn”5.

Kết luận của Cục tình báo Trung ương Mỹ phần nào xua tan nỗi ám ảnh và e ngại của Tổng thống L.Giônxơn về sự can thiệp của Liên Xô, Trung Quốc. Do đó, tháng 12-1964, L.Giônxơn tán thành thực hiện phương thức lựa chọn A trong 30 ngày, sau đó đến phương thức lựa chọn C.

Với quyết định này của L.Giônxơn, cuộc chiến tranh Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới. Các hoạt động quân sự của Mỹ càng ráo riết, mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh tăng lên đột ngột. Ngày 8-2-1965, Mỹ đưa tiểu đoàn tên lửa phòng không “Hốc” vào Đà Nẵng. Ngày 2-3-1965, không quân Mỹ được lệnh thực hiện chiến dịch Sấm rền (Rolling Thunder). Ngày 3 và 4-3-1965, Mỹ dùng hàng trăm máy bay đánh phá cầu Hàm Rồng, Đò Lèn và các căn cứ hải quân của ta trên miền Bắc. Ngày 8-3-1965, hai tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ số 1 và 3 thuộc Lữ đoàn Hải quân viễn chinh số 9 đổ bộ vào Đà Nẵng. Mặc dù, đế quốc Mỹ cố sức giữ cho chiến lược chiến tranh đặc biệt khỏi bị thất bại, song qua hơn sáu tháng ném bom miền Bắc, Mỹ không ngăn chặn được luồng hàng và người chi viện cho miền Nam, các cuộc tiến công của Quân giải phóng gia tăng. Từ trận Bình Giã năm 1964 báo hiệu chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ có nguy cơ thất bại, đến trận Đồng Xoài, Ba Gia mùa Hè 1965, chiến lược chiến tranh đặc biệt bị phá sản hoàn toàn. Ba chỗ dựa chủ yếu của chiến tranh đặc biệt là quân đội, chính quyền và ấp chiến lược mà Mỹ dày công xây dựng, nuôi dưỡng, trang bị vũ khí, làm cố vấn và chỉ huy trong suốt bốn năm với bao hy vọng đã đổ vỡ không có cách gì ngăn chặn được. Thất bại này của Mỹ và Sài Gòn dẫn đến sự sa sút trầm trọng hơn về tinh thần, ý chí trong quân đội Việt Nam Cộng hoà và làm tăng sự mất ổn định về chính trị của Nam Việt Nam. Đây là “bằng chứng Mỹ đang chơi một ván cờ thua ở Việt Nam”6. Nhưng Mỹ quyết không bỏ cuộc. Vì “cam kết” với đồng minh, vì sự tồn vong của chiến lược toàn cầu, đế quốc Mỹ quyết tâm dùng chiến lược chiến tranh cục bộ, đưa quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào Nam Việt Nam trực tiếp tiến hành chiến tranh thay cho chiến lược chiến tranh đặc biệt và quân đội tay sai bản xứ. Nếu không thay đổi chiến lược, chính sách, Hoa Kỳ phải từ bỏ xâm lược mà điều này Mỹ không bao giờ nghĩ đến.
______________________________________
1 ÷ 4. Tài liệu mật của Bộ quốc phòng Mỹ, Tlđd, t.2, tr.12, tr.18.
5. Tlđd, t. 2, tr. 12.
6. Tlđd, t. 2, tr. 18.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Tư, 2010, 10:32:47 PM »


Muốn thay đổi được tình hình Nam Việt Nam, đại sứ Mỹ Mx.Taylo kiến nghị chính quyền Oasinhtơn phải làm ba việc:

Thứ nhất, thành lập một chính phủ có thể chấp nhận được ở Nam Việt Nam.

Thứ hai, cải cách việc tiến hành các chiến dịch chống nổi loạn.

Thứ ba, thuyết phục hoặc buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấm dứt viện trợ cho Việt cộng và dùng quyền chỉ đạo của họ để buộc Việt cộng phải từ bỏ những cố gắng nhằm lật đổ Chính phủ Nam Việt Nam”1.

Tổng thống L.Giônxơn và các quan chức chủ chốt Nhà Trắng, Lầu Năm góc, CIA đã tranh cãi gay gắt về các giải pháp của Mx. Taylo và một số người khác đưa ra, cuối cùng họ đi đến thống nhất quan điểm là phải giữ vững chính quyền Sài Gòn để chứng minh cho nhân dân Mỹ, cho đồng minh và cho kẻ thù về hình ảnh của một nước Mỹ siêu cường. Mục tiêu của Mỹ là phải đảo ngược chiều hướng xuống dốc này của Nam Việt Nam bằng cách sử dụng quân Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh ở miền Nam, đồng thời mở rộng việc ném bom liên tục miền Bắc Việt Nam cho đến khi Mỹ đạt được thắng lợi (T.G nhấn mạnh).

Tập đoàn L.Giônxơn lên cầm quyền giữa lúc nền kinh tế Mỹ đang thịnh vượng, lạm phát thấp nhất, tình hình chính trị nội bộ tương đối ổn định, lại có Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ cho phép Tổng thống toàn quyền hành động, nên dù có gặp khó khăn, L.Giônxơn cũng không còn lý do để dè dặt. Bởi vậy, ngày 1-4-1965, L.Giônxơn quyết định đưa thêm một bộ phận quân chiến đấu Mỹ sang Việt Nam và tăng cường không quân, hải quân đánh phá miền Bắc mạnh mẽ, liên tục hơn, với mục đích làm cho “cột xương sống của Hà Nội mềm đi” để phải chịu những điều kiện thương lượng do Mỹ áp đặt và từ bỏ chi viện cho cách mạng miền Nam. Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ cụ thể hoá quyết định của L.Giônxơn thành 11 biện pháp thực hiện trong Bị vong lục số328-NSAM ngày 6-4-1965, trong đó có bốn biện pháp chủ yếu và quan trọng:

1. Tổng thống chuẩn y tăng thêm 18.000 đến 20.000 quân trong các lực lượng hỗ trợ của Mỹ để bổ sung cho các đơn vị hiện có và cung cấp số nhân viên hậu cần cần thiết.

2. Tổng thống chuẩn y cho triển khai thêm hai tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, một phi đoàn của lính thuỷ đánh bộ và những bộ phận kết hợp về chỉ huy và hỗ trợ.

3. Tổng thống chuẩn y một sự thay đổi nhiệm vụ của tất cả những đơn vị lính thuỷ đánh bộ được triển khai hướng vào Việt Nam để có thể sử dụng những đơn vị này một cách tích cực hơn theo những điều kiện sẽ được quy định và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thông qua sau khi tham khảo ý kiến của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

4. Tổng thống tán thành việc thăm dò khả năng triển khai quân sang Nam Việt Nam của Chính phủ Nam Triều Tiên, Úc, Tân Tây Lan... song song với việc triển khai thêm lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ đã được phê chuẩn trong đoạn 6 (điểm 2)2.

Quyết định này đánh dấu sự thay đổi về chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam từ chỗ cố vấn, hậu thuẫn đến tham chiến trực tiếp. Nó bắt đầu Mỹ hoá cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, để giữ bí mật cho hành động mới của Mỹ, Tổng thống L.Giônxơn đã ra “nghiêm lệnh viết tay” cho các thành viên trong Hội đồng An ninh quốc gia là trong hành động phải khẩn trương làm càng sớm càng tốt, nhưng không được phổ biến quyết định này quá sớm, phải làm cho nhân dân Mỹ và thế giới không thấy có vẻ gì là Chính phủ Mỹ thay đổi chính sách đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, những việc làm của Mỹ phải được quan niệm hoàn toàn không mâu thuẫn gì với chính sách hiện nay (chính sách thực dân mới).

Thực hiện những quyết định trong Bị vong lục 328 – NSAM, ngày 10-4-1965, tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ 2/3 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3) đổ bộ vào Đà Nẵng, hai đại đội của tiểu đoàn này được máy bay lên thẳng chuyển đến Phú Bài. Ngày 14-4, các tốp máy bay đầu tiên của phi đội máy bay hải quân 551 hạ cánh xuống Đà Nẵng và tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ 3/4 (Tiểu đoàn 3, Trung đoàn lính thuỷ đánh bộ số 4), tới Phú Bài để thay thế cho các đại đội của tiểu đoàn 2/3. Từ ngày 3 đến ngày 5-5, Lữ đoàn 9 được tăng thêm ba tiểu đoàn đổ bộ lên Chu Lai3. Tính đến thời điểm này, quân chiến đấu Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam bảy tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ, một trung đoàn pháo mặt đất, một phi đội máy bay chiến đấu F4 (Con ma) đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tướng Pon J.Phôntanơ và đến ngày 5-6 thì trung tướng Kailơ Cớt Xêông thay thế. Nhiệm vụ lính thủy đánh bộ từ phòng giữ căn cứ được thay đổi sang yểm trợ tác chiến và tiến công.
______________________________________
1. Tlđd, t. 2, tr. 59.
2. Tlđd, t.2, tr. 20
3. Lữ đoàn viễn chinh hải quân số 9 vào Phú Bài, Chu Lai, Đà Nẵng, tháng 5-1965 giải thể để tổ chức thành Bộ Tư lệnh lính thuỷ đánh bộ số 3.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #4 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 06:57:47 PM »


Trước tình hình leo thang chiến tranh cực kỳ nguy hiểm này của đế quốc Mỹ, Hội nghị cấp cao 17 nước không liên kết họp ở Bengơrát (Belgrade) từ ngày 13 đến 18-3-1965 đã ra tuyên bố lên án Mỹ và đề nghị các nước trên thế giới lên án sự can thiệp của nước ngoài dưới mọi hình thức, kêu gọi thương lượng không điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí của mình, ngày 22-3-1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng tuyên bố lập trường năm điểm, và ngày 8-4, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu ra lập trường bốn điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam. Tinh thần cơ bản của các tuyên bố đó là Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam, thì phải rút hết quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ về nước, ngừng ném bom miền Bắc không điều kiện, phải tôn trọng Hiệp nghị Giơnevơ 1954, công việc của miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài. Ông Mai Văn Bộ, đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pari đã giải thích lập trường bốn điểm của Việt Nam cho ông Vụ trưởng Vụ Chính trị Bộ Ngoại giao Pháp rằng đó là “cơ sở tốt nhất” để tìm ra “giải pháp đúng đắn nhất” cho vấn đề Việt Nam, chứ không phải là điều kiện tiên quyết. Ngày 24-4-1965, Tổng thư ký Liên hợp quốc Uthan kêu gọi Mỹ đình chỉ ném bom miền Bắc ba tháng để đạt tới thương lượng. Một số nhà khoa học Mỹ yêu cầu Chính phủ rút hết mọi sự can thiệp của Mỹ ở châu Á mà khởi đầu bằng việc ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, v.v... Bất chấp dư luận và những đề nghị hợp tình hợp lý của Việt Nam, Hoa Kỳ tự cho mình có đầy đủ sức mạnh để áp đặt ý muốn của họ cho dân tộc Việt Nam, nên đã bác bỏ tất cả. Ngày 7-4-1965, Tổng thống Mỹ L.Giônxơn phát biểu tại Trường đại học Giôn Hốpkin bang Bantimo, bác bỏ những đề nghị, những tuyên bố của ta và quốc tế. L.Giônxơn nói: “Chúng ta sẽ không bị thất bại... Chúng ta sẽ không rút lui hoặc công khai dưới bóng của một thoả hiệp vô nghĩa... Và chúng ta phải chuẩn bị cho một cuộc chiến vẫn tiếp diễn lâu dài”1. Điều này chứng tỏ Mỹ quyết tâm dùng biện pháp quân sự chống nhân dân Việt Nam đến cùng. Tuy nhiên, để lừa bịp dư luận thế giới, trấn an tinh thần cho nhân dân Mỹ, cũng trong lời phát biểu tại Trường đại học Giôn Hốpkin, L.Giônxơn đưa ra “củ cà rốt” một tỷ đôla viện trợ phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Cửu Long do Mỹ tài trợ, Bắc Việt Nam có thể tham gia, làm như Mỹ cũng có thiện chí hoà bình, hợp tác. Song, L.Giônxơn càng kêu gọi thương lượng, hoà bình thì chiến tranh càng tiếp diễn ác liệt. Chính quyền và quân đội Sài Gòn tiếp tục suy yếu hơn trước. Mỹ lại tìm cách dính líu sâu vào cuộc chiến tranh, thúc ép Thái Lan đưa quân vào Lào, thực hiện câu kết giữa ngụy Lào và ngụy Sài Gòn, dùng không quân đánh phá vùng Trung - Hạ Lào để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, hòng đánh đòn hiểm ác vào cách mạng miền Nam từ hướng tây. Đối với Campuchia, Mỹ gây sức ép với Chính phủ trung lập Xihanúc, buộc nước này chống lại Việt Nam.

Âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ trên đây là nhằm tạo ra một thế chiến lược mới, chủ động bao vây, cô lập cách mạng Việt Nam ở miền Nam. Từ đó tạo ra một lực cản mạnh mẽ để trong thời gian ngắn nhất ngăn chặn được sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Trên cơ sở đó, Mỹ tập trung lực lượng tiến công tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng miền Nam, phá chiến tranh du kích, tiến hành chương trình bình định nông thôn, giành lại quyền chủ động chiến trường, đồng thời với việc tăng cường ném bom miền Bắc, làm kiệt quệ tiềm lực của hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, làm lung lay ý chí quyết tâm của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta. Qua đó, Mỹ sẽ củng cố vị trí của chúng ở Việt Nam, Đông Dương và Đông - Nam Á, giữ vững vai trò lãnh đạo “thế giới tự do”. Làm được như vậy, đế quốc Mỹ sẽ chứng tỏ cho thế giới biết sức mạnh hùng hậu và khả năng của Mỹ có thể đè bẹp, tiêu diệt bất cứ cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nào, răn đe phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Á - Phi - Mỹ Latinh.

Ngày 1-5-1965, tướng Oétmolen trình lên Nhà Trắng kế hoạch chiến lược ba giai đoạn gọi là Chương trình hợp tác gồm ba nội dung tảo thanh, bảo đảm an ninh, tìm và diệt2.

Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến tháng 12-1965 đưa nhanh quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam để ngăn chặn chiều hướng sụp đổ của chế độ Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho những khu vực đông dân cư, gấp rút triển khai lực lượng chuẩn bị cho cuộc phản công giành lại quyền chủ động chiến trường.

Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng “đồng minh” mở các cuộc hành quân tìm diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt lực lượng chủ lực Quân giải phóng, phá các căn cứ du kích, hỗ trợ cho chương trình bình định.

Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối 1967, quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc phối hợp với quân của chính quyền Sài Gòn mở các cuộc hành quân tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định.
Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá ý nghĩa cơ bản của kế hoạch chiến lược ba giai đoạn của Oétmolen là “đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của địch, làm cho kẻ địch không thể tự do đi lại ở bất cứ nào trên đất nước, v.v... và giáng cho kẻ địch những đòn thật nặng nề. Quan niệm này thay thế cho quan niệm phòng thủ tĩnh tại và chiến lược đóng chốt là chiến lược đòi hỏi ít quân Mỹ hơn”3.
______________________________________
1. Dẫn theo Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và bài học về cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 185.
2. Theo quan niệm của Oétmolen:
    + Tảo thanh là tiêu diệt hoặc đẩy lùi lực lượng du kích và các lực lượng quân sự khác ra xa các khu dân cư và đô thị, để cho các cơ quan dân sự Sài Gòn có thể yên tâm làm nhiệm vụ của họ.
    + Bảo đảm an ninh là nắm giữ một vùng để tảo thanh bằng biện pháp đóng đồn, tuần tiễu, đồng thời tiến công vào bất kỳ dấu vết nào còn lại của quân cộng sản và nhổ bật gốc rễ cơ cấu chính trị hạ tầng bí mật của Việt cộng.
    + Tìm và diệt là dùng bộ binh tiến công, phát hiện cộng sản: tìm cách đưa lực lượng Việt cộng và Bắc Việt ra giao chiến rồi tiêu diệt hoặc buộc địch phải đầu hàng. Trong quá trình này, quân Mỹ phải tìm cho được các vùng căn cứ của Việt cộng, tiêu diệt nó cùng với những hầm cất giấu đồ tiếp tế, vũ khí. Do đó, huỷ bỏ được những vùng đất thánh của Việt cộng.

3. Tlđd, t. 2, tr. 136.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #5 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 06:59:08 PM »


Ngày 17-7-1965, Tổng thống Mỹ L.Giônxơn chuẩn y đề nghị tăng quân lên 44 tiểu đoàn và kế hoạch “tìm và diệt” của tướng Oétmolen, ra lệnh triển khai vào Nam Việt Nam 34 tiểu đoàn quân Mỹ gồm khoảng 100.000 quân, số còn lại sẽ đưa tiếp theo. Quyết định này của L.Giônxơn đã đưa nước Mỹ “vượt qua ngưỡng cửa bước vào cuộc chiến tranh trên đất liền ở châu Á”1. Đây là bước ngoặt quan trọng đánh dấu quá trình thay đổi đường lối, chính sách leo thang chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Từ đây, quân Mỹ đóng vai trò lực lượng chiến lược chủ yếu trực tiếp tiến hành chiến tranh. Chiến lược chiến tranh cục bộ - đỉnh cao của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ.

Mùa Hè 1965, đế quốc Mỹ gấp rút đưa vào miền Nam Việt Nam Lữ đoàn dù 173, Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ số 3 và 4 thuộc Sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến, Phi đoàn máy bay hải quân số 1 của lính thuỷ đánh bộ và Bộ tư lệnh Hậu cần số 1 (nâng tổng số quân Mỹ cuối tháng 5 lên 82.000 tên) và tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia (6-1965).

Hành động đầu tiên trên bộ của Mỹ ở miền Nam là dùng Lữ đoàn dù 173 phối hợp với quân Ôxtrâylia càn quét phía tây bắc Sài Gòn từ ngày 27 đến 30-6-1965. Trước đó, ngày 18-6-1965, Mỹ dùng 27 lần chiếc máy bay B52 ném bom rải thảm Bến Cát (Đông Nam Bộ). Máy bay B52 được Mỹ đánh giá là vũ khí lợi hại nhất đã bay thử tại Mỹ ngày 16-4-1952. Từ đó đến 1965, máy bay B52 chưa được sử dụng ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Đây là lần đầu tiên Mỹ sử dụng loại vũ khí chiến lược có tính chất huỷ diệt trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Trước khi Lữ đoàn dù 173 mở cuộc hành quân “tìm diệt” đầu tiên vào vùng Bến Cát, thì ngày 1-6-1965 Mỹ tổ chức cuộc họp ở Hônôlulu bàn kế hoạch gây sức ép tối đa về quân sự, mà đỉnh cao là dùng không quân tiến công miền Bắc Việt Nam và tăng quân Mỹ vào miền Nam theo yêu cầu của Oétmolen. Hầu hết các thành viên tham gia hội nghị đều tỏ ra lo ngại và “chán chường” về kết quả các cuộc ném bom, cho nên cuộc họp không có kết luận, vì không giải quyết được các vấn đề chủ yếu đụng phải trong chiến tranh2. Trong khi đó, Tổng thống L. Giônxơn yêu cầu Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng soạn thảo ngay kế hoạch hành động mới của Mỹ ở Việt Nam kết hợp quân sự với chính trị chống lại một cách hữu hiệu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Chính phủ Mỹ còn cử các nhân vật cao cấp đến Nam Triều Tiên, Tân Tây Lan (Niu Dilân), Ôxtrâylia, Philíppin, Thái Lan, Inđônêxia, v.v…, vận động các nước này ủng hộ chính sách chiến tranh của Mỹ và đưa quân sang Nam Việt Nam. Ý đồ thâm độc của Oasinhtơn là tìm cách quốc tế hoá cuộc chiến tranh Việt Nam để đỡ bớt gánh nặng cho Mỹ, qua đó khẳng định sự ủng hộ quốc tế đối với Mỹ trong cuộc chiến tranh - thực chất là sự ủng hộ của các nước phụ thuộc Mỹ. Kết quả là Nam Triều Tiên, Ôxtrâylia, Philíppin, Thái Lan, Tân Tây Lan đồng tình với Mỹ, gửi quân sang Nam Việt Nam.

Vào những ngày tháng 6 nóng bỏng, các đơn vị quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc đã vào miền Nam, hối hả triển khai “chiến lược đóng chốt” ở Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Bồng Sơn và Vũng Tàu... Nhưng tình hình quân sự, chính trị của Mỹ và Sài Gòn ở miền Nam vẫn không có gì sáng sủa hơn trước. Chính quyền Sài Gòn do bản chất phản động đại diện cho giai cấp địa chủ, tư sản mại bản thân Mỹ, luôn luôn lục đục, tranh giành quyền bính, làm cho bộ máy lãnh đạo do Mỹ dựng lên vốn đã ốm yếu càng suy yếu thêm. Dù vậy, Mỹ vẫn phải dựa vào chính quyền tay sai bản xứ, nòng cốt là nhóm quân nhân trung thành ủng hộ các chính sách của Mỹ mới có thể che giấu được bộ mặt xâm lược của chúng, hòng lừa bịp nhân dân Mỹ và tránh sự lên án của thế giới. Vì thế, cùng với việc đưa ồ ạt quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, chính quyền Oasinhtơn ủng hộ nhóm tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ lật đổ chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát bằng cách gây sức ép buộc bọn này phải từ chức. Ngày 11-6-1965, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của toà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, các tướng lĩnh quân đội nhóm họp tại dinh Độc Lập chấp nhận từ chức của Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát và cử Thiệu, Kỳ điều hành tạm thời cho đến khi thành lập chính phủ mới. Ngày 14-6-1965, Uỷ ban lãnh đạo quốc gia chính thức được thành lập do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch, Nguyễn Cao Kỳ làm uỷ viên phụ trách điều khiển hành pháp. Ngày 19-6-1965, Sài Gòn thành lập nội các chiến tranh gồm uỷ ban lãnh đạo quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu đứng đầu, uỷ ban hành pháp trung ương (Chính phủ) do Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch. Như vậy, bằng các biện pháp khéo léo không gây những chấn động lớn, Oasinhtơn đã lập được một chính quyền quân sự tay sai ở Sài Gòn trung thành với Mỹ, tạm thời tạo được thế ổn định về chính trị để Mỹ tiếp tục đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, tiến hành chiến tranh và tăng cường đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Quyết giành thắng lợi bằng quân sự, đế quốc Mỹ đã đẩy nhanh việc đưa ồ ạt quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam nước ta. Từ tháng 7 đến cuối năm 1965, các Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ), Sư đoàn kỵ binh không vận 1, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn kỵ binh không vận 101 (Thiên thần mũi đỏ), Lữ đoàn 3, Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới), Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11, v.v… cùng hàng vạn tấn phương tiện chiến tranh hiện đại ùn ùn đổ vào miền Nam Việt Nam.
______________________________________
1. Tlđd, t. 2, tr. 136.
2. Những vấn đề chủ yếu: Hướng hành động của Mỹ như thế nào là thích hợp để chấm dứt được sự ủng hộ và chỉ huy của miền Bắc Việt Nam đối với phong trào kháng chiến ở miền Nam, đồng thời củng cố được chế độ Sài Gòn, đẩy lùi được cộng sản ra khỏi xã hội miền Nam...

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #6 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:00:42 PM »


Tính đến tháng 12 - 1965, tổng số quân chiến đấu Mỹ có mặt ở Nam Việt Nam lên đến 184.314 tên gồm ba sư đoàn, sáu lữ đoàn và trung đoàn1 cùng hai phi đoàn máy bay chiến đấu chiến thuật số 3 và 12, lực lượng hải quân đặc nhiệm 115, 116 tuần tra kiểm soát vùng duyên hải và trên sông. Quân các nước phụ thuộc Mỹ có 20.500 tên gồm Sư đoàn bộ binh Mãnh hổ, Lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ Rồng xanh Nam Triều Tiên, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia, Đại đội pháo binh Niu Dilân, Tây Ban Nha, Đài Loan cũng đưa sang Nam Việt Nam 43 cố vấn quân sự và chuyên gia giúp Mỹ. Quân chủ lực Sài Gòn có 520.000 tên biên chế thành 10 sư đoàn và 5 trung đoàn. Hạm đội 7 - hạm đội hùng hậu nhất của Hải quân Mỹ được mệnh danh chúa tể đại dương trước kia hướng hoạt động của nó ở Đông Bắc Á, nay tập trung hướng hoạt động vào vùng biển Đông - Nam Á mà trọng điểm là Việt Nam, cùng hàng vạn lính Mỹ đóng ở Thái Lan, Philíppin, đảo Ôkinaoa, đảo Guam... đều được sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Mùa Xuân 1965, Bộ chỉ huy Mỹ ở Nam Việt Nam gấp rút triển khai lực lượng chiếm đóng các vị trí then chốt có ý nghĩa chiến lược, sẵn sàng mở cuộc phản công giành lại thế chủ động chiến trường. Sư đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ là đơn vị được thành lập sớm nhất của quân đội Mỹ (1775) là đội dự bị chiến lược ở Thái Bình Dương; Sư đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ là đơn vị có nhiều thành tích ở Viễn Đông, giỏi về đổ bộ, mở rộng nhanh khu vực tác chiến tiến công, phát huy uy lực mạnh và hiệu quả ở chiến trường ven biển, cùng với Lữ đoàn 1 kỵ binh không vận (thuộc Sư 101) được bố trí ở Chu Lai, Đà Nẵng, Phú Bài, Phan Rang, có nhiệm vụ bảo đảm an ninh Vùng chiến thuật I và sẵn sàng đối đầu với khối chủ lực cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 còn gọi là Sư đoàn kỵ binh cơ động đường không thành lập ngày 1-7-1965 theo sáng kiến của Mắc Namara do yêu cầu của cuộc chiến tranh Việt Nam. Biên chế Sư đoàn gồm 15.787 sĩ quan, binh lính, được trang bị 434 máy bay lên thẳng, 1.600 xe các loại... tiêu biểu cho sức mạnh cơ động tập kích mãnh liệt, chớp nhoáng, có thể đổ quân bất cứ nơi nào chúng muốn mà không cần chuẩn bị. Vào miền Nam tháng 9 - 1965, Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 lên An Khê chiếm giữ một địa bàn chiến lược quan trọng để tiến công tiêu diệt, đẩy lùi hoặc khống chế lực lượng cách mạng ở Tây Nguyên, Khu V và miền Trung Đông Dương, đồng thời sẵn sàng cơ động trên chiến trường toàn miền Nam khi nhiệm vụ đòi hỏi. Lữ đoàn dù 173 - đơn vị cơ động chiến lược của quân đội Mỹ, vào miền Nam tháng 5 - 1965 đóng tại Bồng Sơn (Bình Định) sau đó vào Biên Hòa, cơ động tác chiến trên toàn chiến trường như những lực lượng xung kích ứng cứu nhanh. Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ) thành lập năm 1917 đã từng lập công lừng lẫy trong hai cuộc chiến tranh thế giới, sang Nam Việt Nam tháng 7 - 1965 được bố trí ở Dĩ An (Biên Hoà), Hớn Quản, Phước Vĩnh (Bình Long), Lai Khê (Bình Dương) là đơn vị mạnh nhất của lục quân Mỹ, cơ động chiến đấu trên toàn Nam Bộ. Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới) đóng ở Kon Tum2. Các đơn vị Ôxtrâylia, Nam Triều Tiên và một số đơn vị binh chủng kỹ thuật Mỹ được bố trí ở Bà Rịa, Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi và Chu Lai (Quảng Nam). Bằng cách bố trí lực lượng như trên, Mỹ đã lập được một tuyến bàn đạp ven biển từ Quảng Trị đến Vũng Tàu kết hợp chặt chẽ với những điểm chốt lớn cỡ lữ đoàn, sư đoàn nằm sâu trong nội địa Nam Việt Nam, tạo thành các tuyến phòng ngự vững chắc theo chiều dọc bắc - nam, trong đó hình thành những cụm phòng ngự mạnh là những căn cứ bàn đạp cho các cuộc hành quân tìm diệt của quân Mỹ cũng như quân Nam Việt Nam. Cách bố trí này thể hiện rõ sự phân tán lực lượng của Mỹ do tác động của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam phát triển cao. Các tuyến bảo đảm hậu cần cho quân Mỹ và đồng minh của Mỹ được tổ chức theo phương hướng phục vụ yêu cầu cuộc chiến tranh cục bộ quy mô lớn. Mỹ cấp tốc xây dựng bảy sân bay, tám quân cảng lớn, hàng trăm sân bay, bến cảng vừa và nhỏ ở miền Nam và hàng chục sân bay, quân cảng lớn ở Thái Lan, Nhật Bản, Philíppin, Đài Loan. Ngoài các căn cứ đầu cầu tiếp vận lớn, Mỹ xây dựng ở mỗi tỉnh từ một đến hai sân bay bảo đảm cho máy bay vận tải C130 cất, hạ cánh và hàng chục sân bay dã chiến dùng cho máy bay lên thẳng. Đáng chú ý là tháng 12 - 1965, hải quân Mỹ được lệnh đưa tàu sân bay Intéc Praidơ trọng tải 75.700 tấn, chứa từ 80 đến 100 máy bay vào tham chiến. Đây là lần đầu tiên tàu sân bay chạy bằng năng lượng nguyên tử được Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Với lực lượng đông, tinh nhuệ và hiện đại, Vếchlơ - Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân bảo đảm với Tổng thống và Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Namara “không có lý do gì chúng ta (Mỹ) lại không thể thắng nếu đó là quyết tâm của chúng ta”3. Những nhân vật “diều hâu” trong giới cầm quyền Mỹ tin tưởng một cách tự mãn rằng “cùng lắm trong vòng 18 tháng (cuối 1966), Mỹ sẽ chiến thắng, lúc đó Việt cộng và Hà Nội sẽ phải chịu thua, chấm dứt kháng chiến. Và, trên bình diện thế giới, chúng ta (Mỹ) sẽ chứng minh được cho các dân tộc thấy rằng chiến tranh cách mạng không đem lại kết quả gì, cuộc khởi nghĩa nào cũng có thể bị tiêu diệt”4. Do bản chất của chủ nghĩa đế quốc quy định, các nhà vạch chiến lược Mỹ coi số lượng binh lính, vũ khí, vật chất, trang bị chiến tranh là nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh, nên chúng rất chủ quan không đánh giá đúng mình và coi thường đối phương. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tập đoàn hiếu chiến cầm quyền nước Mỹ lao sâu vào con đường chiến tranh xâm lược sai lầm để rồi chuốc lấy thất bại.
______________________________________
1. Sư đoàn 3 và Trung đoàn 7 thuộc Sư đoàn 1 lính thuỷ đánh bộ; Sư đoàn bộ binh 1 (Anh cả đỏ); Sư đoàn kỵ binh bay số 1; Lữ đoàn 1/Sư đoàn kỵ binh không vận 101; Lữ đoàn dù 173; Lữ đoàn công binh 18; Lữ đoàn 3/Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới), Trung đoàn kỵ binh thiết giáp 11...
2. Lữ đoàn 3/Sư đoàn bộ binh 25 (Tia chớp nhiệt đới) vào miền Nam tháng 12 - 1965, đến tháng 10 - 1966 thì chuyển sang Sư đoàn bộ binh số 4.
3. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, tập,7, tr.153.
4. Marchel Giuglaris: Việt Nam, le jour de l’escalade (Việt Nam ngày đầu leo thang), NRF, 1961, tr.238.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #7 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:06:28 PM »


II- CẢ NƯỚC TA KHẨN TRƯƠNG CHUẨN BỊ MỌI MẶT,
SẴN SÀNG BƯỚC VÀO CUỘC ĐỤNG ĐẦU LỊCH SỬ

Ngay sau khi Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc ngày 5-8-1964, Đảng ta đã dự kiến rồi đây Mỹ sẽ đưa quân bộ vào miền Nam Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt. Những năm chống chiến tranh đặc biệt mặc dù cũng rất gay go, nhưng Đảng ta chưa chủ trương đưa các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương vào tăng cường cho miền Nam, nay tình hình rất thúc bách, Đảng cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trần Văn Trà, Chu Huy Mân, Hoàng Văn Thái, Uỷ viên Trung ương Đảng, Lê Trọng Tấn, Hoàng Minh Thảo và một số cán bộ cao cấp khác vào tăng cường cho Nam Bộ, khu V, Tây Nguyên. Cuối năm 1964, các trung đoàn chủ lực miền Bắc cũng được lệnh bí mật hành quân vào chiến trường, đồng thời Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở Mặt trận Tây Nguyên, chuẩn bị trước một bước để trong trường hợp quân Mỹ vào miền Nam thì căng nó ra, kéo nó lên rừng núi mà đánh. Tuy nhiên, ta chưa mở Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị, vì còn muốn kiềm chế Mỹ, không kích thích địch đẩy chiến tranh cục bộ lên quá sớm. Điều đó thể hiện ta hoàn toàn chủ động. Vì vậy, việc chính quyền L.Giônxơn đưa quân Mỹ và quân của các nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam Việt Nam, trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược không làm cho Đảng ta, nhân dân ta bất ngờ. Điều làm cho ta bị bất ngờ là quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ vào nhanh, ồ ạt. Chỉ trong tám tháng, 20 vạn quân viễn chinh đã có mặt ở miền Nam Việt Nam với đầy đủ vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại. Điều đó chứng tỏ đế quốc Mỹ quyết tâm hơn trong việc bám giữ Nam Việt Nam, hòng chia cắt vĩnh viễn đất nước ta.

Quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam số lượng đông, nhưng quân đội Sài Gòn vẫn còn là lực lượng lớn, nên cuộc chiến tranh ở miền Nam lúc đó “vừa có tính chất chiến tranh cục bộ, vừa có tính chất cuộc chiến tranh đặc biệt1. Đồng chí Lê Duẩn cho rằng nhấn mạnh tính chất “cục bộ” là vì hình thái và biểu hiện mới của cuộc chiến tranh ngày càng tăng lên, nhưng “phải đánh giá đúng mức tầm quan trọng của tính chất “đặc biệt” còn lại trong cuộc chiến tranh đó, vì mặt thứ hai này gắn liền với chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ”2. Từ nhận định tính chất cuộc chiến tranh như trên, Đảng ta đã ra Nghị quyết Trung ương lần thứ 11, vạch phương hướng, nhiệm vụ chiến lược lãnh đạo toàn dân chủ động chuẩn bị trước mọi mặt, sẵn sàng đối phó với chiến tranh mở rộng. Do đó, khi quân Mỹ vào, biết đất nước sẽ bị tàn phá, đồng bào ta phải chịu nhiều gian khổ, hy sinh, nhưng từ miền Bắc đến miền Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vẫn bình tĩnh, lạc quan, tin tưởng, đồng tâm đánh Mỹ. Tình hình chính trị ở miền Bắc và các vùng giải phóng ở miền Nam ổn định. Khẩu hiệu Xây dựng, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam do Hội nghị Trung ương lần thứ 11 đề ra trở thành hành động tự giác và tình cảm thiêng liêng của mọi người dân yêu nước, làm nảy nở ra nhiều sáng kiến hay trong lao động sản xuất, bảo đảm giao thông, chi viện tiền tuyến, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Đó là nhân tố căn bản để ta phát huy sức mạnh của toàn dân tộc giành thắng lợi cho cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, trong một số cán bộ, đảng viên và nhân dân cũng xuất hiện tư tưởng ngại ác liệt, lừng chừng do dự, hoặc băn khoăn: “làm thế nào đánh được Mỹ và thắng Mỹ?”. Trên thế giới, nhiều chính phủ và những nhân vật có tên tuổi tỏ ra lo ngại cuộc chiến tranh lan rộng thành cuộc chiến tranh thế giới mới. Họ khuyên ta không nên đối đầu với Mỹ - một siêu cường chưa từng bị thua trận. Họ mở những cuộc vận động ngoại giao để mong tìm được giải pháp chính trị sao cho cả ta và Mỹ có thể chấp nhận được, nhưng đều không có kết quả, chiến tranh vẫn tiếp diễn theo chiều hướng ngày càng tăng, vì những nhà cầm quyền Mỹ mưu toan dùng sức mạnh quân sự để áp đặt ý muốn của họ đối với nhân dân Việt Nam. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam trở thành vấn đề nóng bỏng, nổi bật, khiến cả cộng đồng quốc tế quan tâm theo dõi, nó lôi cuốn hàng nghìn triệu người đứng về phía bên này hoặc bên kia, là trung tâm sự chú ý của toàn nhân loại ở những năm sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ này. Bởi lẽ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược diễn ra tại một trong những khu vực tập trung những mâu thuẫn gay gắt giữa hai ý thức hệ: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản, giữa các thế lực cách mạng và phản cách mạng. Mỹ thua trong cuộc chiến tranh này cũng có nghĩa là chiến lược xâm lược toàn cầu và những chính sách thực dân kiểu mới của chúng sẽ thất bại không chỉ ở Việt Nam, Đông - Nam Á mà trên phạm vi thế giới. Điều đó đặt ra cho Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều vấn đề rất mới trong lãnh đạo chiến tranh và nghệ thuật tiến hành kháng chiến sao cho đánh thắng đế quốc Mỹ mà không làm cho cuộc chiến tranh lan rộng thành cuộc chiến tranh giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa, bảo vệ được miền Bắc Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở phía Đông - Nam Á.

Với tầm nhìn sâu rộng, biện chứng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng nước Mỹ giàu, quân Mỹ mạnh, trang bị hiện đại, nhưng chúng vào miền Nam trong hoàn cảnh quân đội Sài Gòn đã thua trận, chính quyền tay sai rệu rã, chiến tranh đặc biệt đã thất bại, chúng mất thế chủ động chiến lược, trong khi đó lực lượng cách mạng đang nắm quyền chủ động chiến trường, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, liên hoàn ở cả ba vùng chiến lược. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta phát triển cân đối và lớn mạnh vượt bậc so với những năm đầu chiến tranh. Năm 1964, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam (chỉ tính riêng bộ đội chủ lực) có 11 trung đoàn và 15 tiểu đoàn, đến cuối năm 1965 ta đã phát triển lên 5 sư đoàn và 11 trung đoàn bộ binh, nhiều tiểu đoàn, trung đoàn binh chủng kỹ thuật3 trang bị tương đối hiện tại. Lực lượng đặc công, biệt động là binh chủng đặc biệt tinh nhuệ, từ những đội, những tổ hoạt động nhỏ lẻ trên các chiến trường, nay phát triển thành nhiều trung đoàn, tiểu đoàn, đội đặc công, biệt động, trong đó có F đặc công 100 gồm chín đội đặc công Nam Bộ hợp thành... Ở khu V, Tây Nguyên, Trị - Thiên, các tiểu đoàn đặc công 406, 407, 408, 409, 487... là những đơn vị dạn dày kinh nghiệm đánh hậu cứ địch.

Lực lượng trên đây được sắp xếp, bố trí thành một thế trận cài xen, vừa có thế chia cắt, vây hãm, đánh địch tại chỗ, hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân tiến công và nổi dậy, vừa phát huy được đòn tiến công của các binh đoàn chủ lực cơ động đánh tiêu diệt lớn quân địch...

Sư đoàn 9 đứng chân hoạt động từ phía bắc đến đông bắc Sài Gòn - Gia Định bao gồm Tây Ninh, Bình Long, Chiến khu Đ. Sư đoàn 5 cơ động tác chiến từ đông bắc đến đông nam Sài Gòn - Gia Định gồm Long Khánh, Biên Hoà, Bà Rịa - Vũng Tàu.

Cách bố trí này hình thành một tuyến tiến công của bộ đội chủ lực xen kẽ với địch chạy dài từ phía tây bắc đến đông nam Sài Gòn, thường xuyên uy hiếp sào huyệt Mỹ - ngụy, khống chế một địa bàn chiến lược cực kỳ quan trọng ở Nam Việt Nam.
_______________________________________
1, 2. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự Thật, 1985, tr.119.
3. - Sư đoàn bộ binh 3 thành lập ngày 2-9-1965.
    - Sư đoàn bộ binh 9 thành lập ngày 2-9-1965.
    - Sư đoàn bộ binh 2 thành lập ngày 20-9-1965.
    - Sư đoàn bộ binh 5 thành lập ngày 23-11-1965.
    - Sư đoàn bộ binh 1 thành lập ngày 20-12-1965.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #8 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:10:18 PM »


Ở miền Trung và Tây Nam Bộ, các trung đoàn chủ lực Quân khu VIII, Quân khu IX được bố trí ở U Minh, Đồng Tháp, vừa giữ căn cứ giải phóng, vừa cùng với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân phá kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời có thể cơ động tiến công địch trên đường số 4 (nay là số 1) - con đường sống còn của cả địch và ta nối Sài Gòn với vùng đồng bằng giàu có ở Nam Bộ...

Ở Liên khu V, lực lượng chủ lực của ta được bố trí cài ém xen kẽ với địch thành một tuyến tiến công vừa có chiều rộng, vừa có chiều sâu chạy từ bắc vào nam và từ đông sang tây. Sư đoàn 2 đứng chân hoạt động ở vùng bắc Quảng Ngãi và nam Quảng Nam - Đà Nẵng. Sư đoàn 3 đứng chân ở nam Quảng Ngãi và bắc Bình Định, uy hiếp và khống chế địch ở khu vực Trung Trung Bộ và quốc lộ số 9 từ Quy Nhơn lên Tây Nguyên. Các Trung đoàn độc lập 10 và 20 đóng, hoạt động ở Phú Yên, Khánh Hoà. Ở Tây Nguyên, Sư đoàn 1 cơ động đánh địch từ bắc tỉnh Kon Tum đến nam tỉnh Đắc Lắc. Các Trung đoàn 24A, 95, 33 độc lập bố trí xuống vùng sâu của ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc làm chủ lực tại chỗ, trực tiếp xây dựng và hỗ trợ cho lực lượng vũ trang, bán vũ trang địa phương.

Ở Trị-Thiên trước là khu đệm ta tổ chức hoạt động nhỏ lẻ nay bố trí Trung đoàn bộ binh 26 cùng các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và bộ đội đặc công, thực hiện các trận đánh tiêu diệt đồn bốt địch, mở vùng, mở mảng, tạo bàn đạp tiến công ở vùng sau lưng địch.

Bên cạnh khối chủ lực cơ động, lực lượng vũ trang địa phương, mỗi tỉnh có một đến hai tiểu đoàn, mỗi huyện có từ một đến hai đại đội cùng hàng trăm trung đội, tiểu đội du kích hoạt động xen kẽ với địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và chống phá địch bình định của nhân dân.

Ở các vùng ven và nội đô các thành phố, thị xã, ta bố trí các đơn vị đặc công, biệt động, pháo chuyên trách để đánh vào cơ quan đầu não, căn cứ, cơ sở chỉ huy, sân bay, kho tàng của Mỹ và tay sai, diệt sinh lực cao cấp của chúng, gây thối động chính trị, làm cho địch thường xuyên mất ổn định, phải lo đối phó bị động, để sơ hở ở các nơi khác. Đây là thế hiểm, sử dụng lực lượng ít nhưng hiệu quả cao, tác dụng lớn.

Cách bố trí, sắp xếp lực lượng của ta trên đây đáp ứng được yêu cầu mới là trong khi quân Mỹ, quân các nước phụ thuộc Mỹ có trang bị kỹ thuật hiện đại, có sức cơ động nhanh, thì lực lượng vũ trang giải phóng tạo được thế trận “cài răng lược” đánh địch tại chỗ, đánh địch ở chính diện, hai bên sườn và sau lưng, buộc chúng phải bị động, phân tán đối phó khắp nơi, khiến cho quân của chúng đông mà vẫn thiếu, phương tiện kỹ thuật hiện đại và sức cơ động cao nhưng không phát huy được tác dụng.

Quân Mỹ vào miền Nam trong lúc ta đang hình thành thế bố trí chiến lược vững chắc và đang ở thế thắng, thế chủ động, nên Đảng ta nhận định so sánh lực lượng trên chiến trường vẫn không thay đổi. Đây là một nhận định khoa học và cách mạng, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng làm cơ sở cho Đảng ta hạ quyết tâm và hoạch định đường lối, phương pháp đúng đắn để chỉ đạo cho toàn dân kháng chiến. Thực tiễn trên chiến trường chứng minh cho nhận định sáng suốt của Đảng ta về so sánh lực lượng địch, ta. Quân Mỹ vừa đặt chân lên Nam Việt Nam đã phải phân tán lực lượng phòng giữ từ Phú Bài (Trị Thiên) đến Đông Nam Bộ và bị ta bao vây ngay bằng hệ thống các vành đai diệt Mỹ. Bước vào cuộc chiến tranh - nhất là cuộc chiến tranh với đế quốc Mỹ mà đánh giá địch không đúng (hoặc quá mạnh, hoặc quá yếu) sẽ rất nguy hiểm: một là khiếp sợ trước sức mạnh của Mỹ, sẽ không dám chống lại, dẫn đến thoả hiệp hoặc đầu hàng; hai là liều lĩnh, phiêu lưu, đánh liều không biết kết quả sẽ đến đâu, dẫn đến hy sinh và thất bại. Đảng ta, nhân dân ta tránh được cả hai khuynh hướng đó. Chủ động và sáng suốt, đầu tháng 7-1965, Bộ Chính trị ra Nghị quyết chuyển hướng công tác tổ chức tập trung lãnh đạo kinh tế và quốc phòng. Và ngày 20-7-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi nói rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là: “Đứng trước nguy cơ giặc Mỹ cướp nước, đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”1.

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh như luồng sinh khí mới xua tan những nỗi lo âu, do dự, làm bừng tỉnh và hun sôi quyết tâm kháng chiến của cả dân tộc. Nó không chỉ thể hiện ý chí quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẵn sàng bước vào cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, mà còn là liều thuốc đặc hiệu trị bệnh lừng chừng, dao động ý chí của một số cán bộ, đảng viên...

Ngay sau Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên miền Bắc, toàn bộ công tác chỉ đạo của Đảng, Nhà nước được chuyển hướng cho phù hợp với thời chiến. Lực lượng cán bộ, nhân viên các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương được bố trí, sắp xếp lại gọn nhẹ phù hợp với chuyển hướng nền kinh tế vào thời chiến và sẵn sàng chiến đấu, chi viện cho các chiến trường. Khắp nơi trên miền Bắc, phong trào thi đua yêu nước mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt dấy lên sôi nổi. Phong trào ba sẵn sàng trong thanh niên; phong trào ba đảm đang trong phụ nữ; phong trào ba quyết tâm trong giới trí thức; phong trào thi đua quyết thắng quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong các lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ, tạo nên khí thế mới hừng hực chưa từng có trong lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu ở hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Hàng triệu thanh niên nam, nữ tình nguyện tòng quân, đi thanh niên xung phong. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ cựu binh xin tái ngũ. Hàng ngày trên đồng ruộng, nhân dân ta thực hiện khẩu hiệu “tay cày, tay súng”, trong nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp, công nhân thực hiện khẩu hiệu “tay búa, tay súng” không ngừng nâng cao năng suất lao động. Từ Việt Bắc, Tây Bắc đến thủ đô Hà Nội, đồng bằng Khu III, Khu IV những đoàn quân nườm nượp lên đường hướng vào tiền tuyến lớn....

Đó là biểu thị quyết tâm của toàn dân và lực lượng vũ trang trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.
____________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.11, tr. 470.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11268



« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2010, 07:15:34 PM »


Ở miền Nam, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 14 triệu nhân dân miền Nam xác định lập trường: “Thà chết chứ không chịu làm nô lệ, sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc và giành độc lập hoàn toàn... Dù chúng có đưa 5 vạn hay 50 vạn quân, dù trang bị bằng thứ vũ khí gì, hay bất cứ chúng đặt chân lên nơi nào của lãnh thổ Việt Nam, chúng ta cũng kiên quyết đánh bại chúng, đánh cho đến khi không còn một tên xâm lược nào trên dải đất thân yêu của chúng ta”1. Thế là toàn dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như miền Nam chỉ có một lòng kiên quyết đánh Mỹ, chỉ có một ý chí là đánh thắng.

Trung ương Cục miền Nam họp Hội nghị lần thứ tư để quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, bàn biện pháp thực hiện nghị quyết và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong kỳ họp này, Trung ương Cục đề ra phương châm đấu tranh “kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công” và chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự trong mùa mưa, nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, làm yếu chỗ dựa của quân Mỹ để tiến hành chiến tranh, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân.

Ở Khu V, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu chủ trương động viên các lực lượng tập trung đánh tiêu diệt lớn sinh lực địch, hạ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ trên chiến trường. Ở Trị - Thiên, Tỉnh uỷ liên tỉnh Quảng Trị - Thừa Thiên mở hội nghị thảo luận quán triệt chủ trương của Đảng và xác định: phát triển thế tiến công trên cả ba vùng, ra sức tiêu diệt địch, đánh bại các cuộc phản công của chúng, giữ vững những thành quả đã giành được trong phong trào Đồng khởi, tích cực mở rộng vùng giải phóng.

Như vậy, quân và dân ta từ Bắc đến Nam, từ đồng bằng đến rừng núi, đều quyết tâm thống nhất ý chí với Trung ương kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ.

Ý chí, quyết tâm đã có, thế trận đã bày sẵn là những nhân tố bảo đảm cho thắng lợi, nhưng đánh Mỹ bằng cách nào để chiến thắng mà ta ít thương vong, tổn thất? Đây là bài toán hóc búa chưa có lời giải, vì ta hiểu Mỹ về bản chất, về sức mạnh vật chất, nhưng cách đánh, chiến thuật của quân đội Mỹ như thế nào, sở trường tác chiến của lục quân Mỹ ra sao vẫn còn là ẩn số, vì đây là lần đầu tiên ta đụng đầu với Mỹ. Bài học kinh nghiệm lịch sử của dân tộc là “biết địch, biết ta, trăm trận trăm thắng”. Từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành lập cho đến khi xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã tiến hành và tham gia tám cuộc chiến tranh lớn, trong đó có năm lần đưa quân ra nước ngoài, nhưng chưa lần nào Mỹ bại trận. Lần này đưa quân sang xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã được tổ chức lại chặt chẽ thống nhất, trang bị hiện đại hơn gấp nhiều lần so với hồi Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hoặc chiến tranh Triều Tiên, nhờ vào những thành tựu phát triển cao của khoa học - kỹ thuật quân sự. Và nước Mỹ đã trở thành một trong hai cường quốc nguyên tử mạnh nhất. Đánh với một đối tượng như vậy, yêu cầu quân và dân ta chẳng những có ý chí, quyết tâm cao mà còn phải có nghệ thuật tiến hành kháng chiến phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh. Để có cách đánh thích hợp với đối tượng, tốt nhất là ta phải chủ động, trực tiếp đọ sức với chúng, không ngồi chờ địch ra quân. Đảng ta chủ trương mở cuộc tiến công Thu - Đông đánh bồi vào quân chủ lực Việt Nam Cộng hoà, làm cho chúng quỵ hẳn không đủ sức làm chỗ dựa cho quân Mỹ tiến hành chiến tranh; đồng thời nhân lúc quân Mỹ mới “chân ướt chân ráo” đổ bộ vào miền Nam, đứng chân chưa vững, mọi cái đều lạ lẫm đối với chúng, ta chủ động tiến công, đánh đòn phủ đầu vừa răn đe chúng, vừa tìm hiểu cách đánh của quân Mỹ.

Trong Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam lần thứ nhất họp tài Lò Gò, phía tây bắc tỉnh Tây Ninh từ ngày 2 đến ngày 6-5-1965, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam phát động phong trào thi đua Quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương nêu quyết tâm cứ đánh Mỹ sẽ tìm ra cách đánh thắng Mỹ. Đại hội không chỉ động viên, cổ vũ phong trào thi đua lập công trong lực lượng vũ trang mà còn biểu thị ý chí, quyết tâm của quân, dân ta cùng nhau tìm cách đánh thắng giặc Mỹ. Lúc này, cuộc tiến công Hè - Thu của lực lượng vũ trang giải phóng đang giành được những thắng lợi lớn. Quân chủ lực Sài Gòn bị ta đánh bại ở Phước Long, Đồng Xoài và Ba Gia. Mặc dù Sài Còn cố gắng đưa quân tăng viện tối đa cho mặt trận Đồng Xoài và Ba Gia, nhưng các đơn vị tiếp viện của địch đều bị ta tiêu diệt.

Ngày 16-5-1965, ta tập kích sân bay Biên Hoà, địch thú nhận: 11 máy bay B57 và 4 máy bay phản lực bị phá huỷ, 25 máy bay khác bị hư hại nặng, 21 tên Mỹ chết, 64 bị thương. Đây là đòn đánh thể hiện quyết tâm của quân, dân ta, đồng thời là đòn cảnh cáo tập đoàn hiếu chiến Mỹ chớ có liều lĩnh.

Quân chủ lực ngụy bị đánh bại, một số căn cứ Mỹ bị tiến công, nhưng Mỹ chưa ra quân ứng cứu, chúng còn dè chừng, thận trọng (?). Không chờ cho quân Mỹ tiến công, ta mới hành động, Bộ Tư lệnh Quân khu V chỉ thị cho Tỉnh đội Quảng Nam, nơi quân Mỹ đã triển khai lực lượng ở Đà Nẵng, Chu Lai “đánh tiêu diệt một đơn vị Mỹ để hạ uy thế quân Mỹ ngay từ đầu, tìm hiểu cách đánh của chúng, rút kinh nghiệm đánh Mỹ cho ta và cổ vũ khí thế đánh Mỹ trong toàn khu. Mục tiêu do tỉnh chọn. Đơn vị đánh do tỉnh lựa, đánh theo trình độ, trang bị, khả năng của tỉnh”2. Trong lúc tỉnh đội Quảng Nam sử dụng Tiểu đoàn 70 (thiếu) phục kích đánh địch từ An Tân ra cầu Ông Bộ và dùng Đại đội 2 thăm dò, chuẩn bị chiến trường để thực hiện chỉ thị của quân khu, thì ngày 17-5, một đại đội Mỹ càn lên phía tây căn cứ Chu Lai nhằm nới rộng vành đai bảo vệ căn cứ. Chúng vừa càn đến cầu Xuôn đã bị du kích xã Kỳ Sanh chặn đánh diệt bốn tên. Đại đội Mỹ dừng lại chống đỡ và tiến lên chiếm Núi Thành, một trong những điểm cao khống chế phía tây căn cứ Chu Lai, thuộc xã Kỳ Liên, huyện Tam Kỳ, nay là thôn Tịch Tây, xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Đây là cơ hội lớn để tỉnh Quảng Nam thực hiện Chỉ thị ngày 10-5 của Bộ Tư lệnh Quân khu. Tỉnh chọn Núi Thành làm mục tiêu tiến công và giao cho Đại đội 2, Tiểu đoàn 70, cùng một tổ đặc công thực hiện trận đánh. Quân địch đóng trên hai mỏm đồi 49 và 50 của Núi Thành, xung quanh có hai lớp rào kẽm gai bùng nhùng chưa có cọc sắt, công sự dã chiến nông, lính Mỹ nằm vừa khuất lưng.
_______________________________________
1. Tuyên bố của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, ngày 3-8-1965.
2. Chỉ thị ngày 10-5-1955 của BTL Quân khu V, Lưu trữ Phòng KH-CN và MT Quân khu V.

Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM