chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #90 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2010, 08:53:21 PM » |
|
DI THẢO SỐ 12 Những việc Giám mục Gauthier có thể giúp*(4 tháng 4 năm Tự Đức 19, tức 17 tháng 5 năm 1865) Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin bẩm rõ những điều Giám mục Hậu muốn giúp Triều đình mà xét thấy có thể làm được: Năm trước châu phê: “Liệu có giúp được việc gì không” 1. Về việc Triều đình muốn xin trả lại ba tỉnh thì theo tôi đó là việc quân việc nước vô cùng quan trọng một giáo sĩ không thể làm được. Về lý và thế đều còn có chỗ trở ngại, thiết tưởng Triều đình cũng đã rõ không cần phải nói nữa. Nay Triều đình muốn nhờ giám mục mời các kỹ sư đến để học tập, đó là điều cấp thiết hiện nay. Nhưng các kỹ sư này đều là những người có tài lực trí xảo họ không muốn xa quê hương. Hơn nữa thấy Triều dình chưa mở hết cửa để thỏa nguyện kẻ ở xa muốn đến giúp Triều đình, khiến họ chùn bước không tiến tới được. Nếu là bọn lạc phách du dân việc gì cũng lấy tài lợi làm trọng, tâm địa không ra gì, thì không thế nào so sánh được với những người chỉ có lòng muốn làm hay làm tốt cho ta. Nay muốn thay đổi tình thế mà không cẩn thận trong việc tìm người hợp tác thì thường sẽ bị người xúc xiểm, bòn rút. Mới đầu khởi sự, chưa thấy lợi mà đã thấy hại, tất sẽ như tình trạng vì nghẹn họng mà bỏ ăn, rút lui không tiến, thế thì làm sao thành việc được? Xe đã đổ 2, tôi rất lấy làm lo buồn. Năm trước linh mục Hòa ở Gia Định đã có tờ trình bày 3. Lần ấy tôi cũng có hai tờ trình bày về việc mua bán và học tập 4. Giám mục cũng đồng ý trước với tôi như vậy. Bởi vì điều khẩn thiết nhất trong đạo giáo là yêu người như yêu mình. Cho nên giáo sĩ đến đâu cũng quan tâm đến việc vui buồn của nước ấy. Hễ nước nào có nền chính trị tốt không làm trở ngại đạo giáo người đều ra sức giúp đỡ. Chỉ có điều chưa thấy bề trên suy lòng để dạ như thế nào mà thôi. Còn cái tình ngay thật trong lòng này, sau nhất định sẽ có ngày Triều đình hiểu rõ. Thế mới biết chỗ kỳ diệu của đạo giáo, không như thường tình thù hằn đến chín đời là vậy. Trước kia khi ở Kinh, nhân lúc đại nhân căn dặn linh mục Hòa 5 tôi đã mấy lần thấy việc giám mục giúp cho một tay là cần thiết. Khi trở về tôi trình bày lại kỹ càng, giám mục vô cùng hân hạnh cho rằng Triều đình đã muốn yên trị tự cường thế tất sau này cả nước và giáo dân đều được ban ơn như các nước trên thế giới vậy. Do đó giám mục tuy ở xa nhưng hiểu được ý tốt của Triều đình. Vậy xin đem những điều có thể giúp được mà không trở ngại gì về mặt giáo lý của đạo giáo trình bày sơ lược vài điều sau đây. Nếu muốn sang thông hiếu hoặc chọn người sang phương Tây học tập quan sát các cơ xưởng kỹ xảo như thế nào, các phép thiên văn, địa lý, lái thuyền hàng hải như thế nào, những cách phân biệt các thứ kim loại đá quặng và thảo mộc như thế nào, các phép tìm kiếm khai quật các mỏ như thế nào, cách làm các khí cụ thường dùng hằng ngày như thế nào, các binh cơ khí giới như thế nào, các mưu lược tung hoành như thế nào cùng là các lễ pháp ngoại giao như thế nào, mua các máy móc to nhỏ hoặc xem cách sử dụng hoặc lấy mẫu như thế nào, cách chọn những người dạy kỹ xảo như thế nào, tìm người trung tín có thể nhờ vả để tìm những nguồn lợi trong nước ta như thế nào, các phương pháp mới để phát triển kinh tế, chọn ra cái nào nên làm trước cái nào nên làm sau và ứng dụng ở nước ta như thế nào, nhất nhất phải nhận cho rõ ràng mà làm, lợi hại hoãn gấp ra sao... đều phải đồng lòng hợp sức để mọi sự được thỏa đáng. Trừ những cái bất ngờ ngoài sự trù tính của mình ra, còn thì sau này mọi người cứ thế mà làm. Các việc trên đây, trừ những khoản phí tổn về việc đi lại của Triều đình ra, còn các khoản phí tổn do giám mục sai phái các linh mục hoặc giáo đồ qua lại để giúp đỡ công việc đều do giám mục tự đài thọ, không phiền Triều đình phải lo, mà các việc đó giám mục đều giao cho Nguyễn Trường Tộ tham dự từ đầu đến cuối. Những dự định giúp đỡ ấy là lời thật tình thật của giám mục chứ không phải nói quá sự thực đâu. Về thứ tự làm cái nào trước cái nào sau sẽ do Triều đình quyết định. Khi bắt tay vào việc sẽ có nhiều điều phải bàn chung nữa, giấy bút không thể kể hết được. Nếu như có việc gì lớn lao rắc rối mà người của giám mục không làm được thì giám mục sẽ thân hành ra làm, không nề khó nhọc, như trước kia Bá Đa Lộc đã đi cùng tiên hoàng vậy. Nhưng khi nào bắt đầu thì Triều đình phải gửi thư đến Giáo hoàng trước để thỉnh mệnh mới được. Mấy điều trên đây, dám xin bày tỏ nỗi lòng dù Triều đình có nghi hay không nghi cũng vậy. Vì rằng sự thế rồi tất có ngày thấy lợi hại của sự nghi ngờ hay không nghi ngờ. Đại nhân là kẻ liên quan đến sự khinh trọng của nước nhà, xin đem tấm lòng thành này của tôi tâu giúp lên cho hoàng thượng rõ thấu, tôi thật vô cùng cảm kích. Kính bẩm. Các điều trong tờ trình bày đều đúng với lời của giám mục nên giám mục đóng dấu vào đây để làm bằng. ______________________________________ * Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 95-98 Hv 634/4 tờ 9-14. Bài này được viết từ Nghệ An. 1. Châu phê trên Văn thư của linh mục Hòa như nói trong bài này. (Xem chú thích về tờ trình của linh mục Hòa dưới đây) 2. Xe trước đã đổ (Tiền xa ký phúc): Phải chăng là Nguyễn Trường Tộ muốn nói đến chuyện lường gạt về chiếc tàu London? 3. Tờ trình của linh mục Hòa năm trước: Văn bản này hiện không tìm thấy ở đâu có. 4. Tức văn bản số 6 và 7 của Nguyễn Trường Tộ trước đây. 5. Linh mục Hòa cũng đã được mời về giúp giải quyết vụ tàu London cùng với Nguyễn Hoằng oà Nguyễn Trường Tộ. (Xem phụ lục 4.2)
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #91 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:40:13 PM » |
|
DI THẢO SỐ 13 Ngôi vua là quí; chức quan là trọng* (Tháng 4 năm Tự Đức 19, tức cuối tháng 5 năm 1866) Kính thưa, Trong bài Khai hoang từ trước đây, ở điều thứ hai tôi có nói: Người Pháp xưa nay lấy ngôi vua làm quí, chức quan làm trọng. Trong phần cuối điều đó cũng nói: Vua các nước thường giao việc nước cho các quan đại thần để chu du các nước, mở rộng kiến văn, mà không phải bận tâm việc trong nước nữa. Vì việc yên trị lâu dài là do liên kết giao thiệp với các nước, khác với thời xưa chỉ biết lấy bùn trét cửa để tự giữ là thế... Trong bài ấy, có 5 điều, nhưng điều này là căn bản. Các việc phúc lợi trong nước đều do đó mà ra. Tôi sở dĩ khinh bỏ danh lợi cốt để Triều đình tin nghe, vì thâm ý của tôi là sang các nước xem nắm tình hình, không những nôn nóng chứng tỏ mình là người không có hại, có thể làm được những việc chính nghĩa cho vua mà còn để trở thành một kẻ mưu trí gấp lo chống đỡ hoạn nạn cho nước nhà nữa. Cho nên bây giờ lại bộc bạch tâm huyết một lần nữa cho hết từ đầu đến cuối. Sau này dù có ngàn vạn lần nữa cũng không có gì thêm. Người xưa có nói: “Dân là gốc của nước”. Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh nhau làm trưởng, giành giật lẫn nhau, án sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước dù có vua bạo ngược còn hơn không vua. Trong kinh thánh xưa của đạo giáo có nói: Tuy vua bạo ngược dân cũng không thể hai lòng. Vì nếu dân dấy loạn thì chưa tổn hại đến vua mà trước hết là hại dân. Ngũ luân thì vua quan đứng đầu. Đạo giáo coi vua hơn cha, cho nên gọi trung phụ là để cho đạo vua được tôn nghiêm hơn. Vì nếu không có đạo vua thì không thành thế gian. Phương Tây gần đây không có ai phạm tội giết vua, không có hành vi khinh thị quý tộc. Tuy những xứ man mọi như Trâu, Cử 1 cũng không khinh lờn, vì đã hiểu rõ ý chỉ của kinh thánh. Trong kinh xưa còn nói: Tạo vật đã từng vì tội của vua quan mà trừng phạt dân ở đời này. Lại nói: Vua tuy vô đạo cũng không được gọi bằng thằng, và sát hại bừa bãi. Bởi vì phạt dân thì trong nước chỉ hại nhỏ, còn phạt vua trong nước thì sẽ bị hại lớn; mà thường khi hại dân có tội, Chúa cũng đặc biệt mượn vua quan làm roi vọt để thay Chúa mà trách phạt. Cho nên giết vua chẳng khác gì giết Chúa. Vua được coi trọng đến như vậy. Cái lý này xưa nay các sách Nho chưa từng nói rõ. Như Mạnh Tử có nói: “Dân là quý, rồi mới đến vua”. Câu nói này đã từng mở đường cho vô số bọn hủ nho sau này lấy cớ mượn việc công để làm điều tư. Thành Thang giết Kiệt. Võ Vương giết Trụ. Thang, Võ đã từng là bề tôi của Kiệt, Trụ thế mà lại giết Kiệt, Trụ. Nếu để cho người khác giết rồi sau cướp lấy thiên hạ trong tay người đó thì mới không hại danh nghĩa. Nếu bảo đó là nguyện vọng của nhân dân thì giả sử dân bảo làm điều bất nghĩa cũng làm hay sao? Phàm nhân thì phải thuần hậu, nghĩa thì phải cho trọn vẹn. Trong lúc giao phong phải cứu người vô tội. Như thế là giết người mà cứu người. Nếu mạo danh giết vua để được cái nghĩa cứu dân thì cái nghĩa đó càng chưa trọn vẹn. Thế mà xưa nay các bậc thánh hiền đều ngợi khen Thang Võ là hết sức nhân nghĩa. Đến như Khổng Phu Tử mà cũng không chỉ rõ điều sai đó để làm sáng tỏ cái nghĩa vua tôi, để cho Thang Võ không có chỗ trốn tránh trong khoảng trời đất này nữa. Nay Thang Võ đã có chỗ trốn tránh rồi. Mối ấy một khi đã khơi ra khiến thiên hạ đời sau dòm ngó ngôi vua, rồi thêm nhiều tiếng ác cho bậc quân phụ để che giấu cái xấu của mình. Cho nên trong bài Lục lợi từ, tôi có nói: Mọi quyền lợi hành vi trong một nước phải do vua nắm, và cùng với quốc dân chia sẻ nỗi vui buồn. Ngoài quy luật này ra đều là tội cả. Tôi xem khắp các nước trong thiên hạ, hễ nước nào có một họ được bề tôi đời đời giúp rập thì tuy có đôi khi suy vi nhưng trong nước cũng không đến nỗi có loạn lớn. Như Nhật Bản đã mấy nghìn năm, Thổ Nhĩ Kỳ đã nghìn năm, các nước phương Tây đều như thế cả, ở Nam Tây Châu cũng vậy. Sở dĩ dân ở đấy phần nhiều chỉ có loạn nhỏ mà không có loạn lớn là vì danh nghĩa đã xác lập ngôi vị ổn định, nghe thấy đã quen ít xảy ra việc thoán đoạt làm loạn. Bởi vì nếu tục lệ dễ dãi lơi lỏng, thì nhân dân một khi thấy có điều không như ý, không biết tự hối lại nói bừa là vua quan không xứng đáng, rồi chê trách lung tung, bàn chuyện thị phi, mưu đồ họ khác lên thay, hoặc hy vọng có một sự thay đổi nào đó, đứng núi này cho núi kia là cao hơn,... nhân tình đại để như vậy. Từ đó bịa ra đủ thứ những câu sấm, bảo là có điềm ứng hiện để gây phiến động trong dân chúng. Do đó dễ sinh ra họa loạn. Các nước phương Tây đã hiểu rõ cái lý đó. ______________________________________ *. Bản Hán văn: 189/1 tờ 83-94. Ở đầu bài ghi là “Tháng 4 năm Tự Đức 19” tức từ 14-5 đến 12-6 năm 1866. Nhưng theo bài tấu của Trần Tiễn Thành ngày 19-4 năm Tự Đức 19 tức 1-6-1866, thì có nhận của Nguyễn Trường Tộ gởi từ Nghệ An ba bản, chắc trong đó có bản “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, nên bài chắc phải được viết trước 1-6-1866 tức vào cuối tháng 5-1865. 1. Trâu, Cử: Những nước nhỏ đời Xuân Thu (Trung Quốc).
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #92 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:41:46 PM » |
|
Kẻ làm vua biết rõ cái điều trời phó thác cho mình là nặng nề, mọi phúc họa điều do trách nhiệm ở vua, cho nên tự hạ mình ghép vào vòng pháp luật. Người làm dân biết rõ ngôi tôn quý đã định rồi, quyền hành đã có người nắm rồi, phận sự đã được đặt để rồi, cái thế đã có người giữ, cho nên quy tiếng đẹp lên trên. Mỗi người tự lo lấy danh nghĩa của mình không dám manh tâm gây chuyện họa loạn. Họ biết rõ mình có nhiều tội ác, Chúa dùng nhiều tai biến để răn đe, nên mới có những sự chênh lệch không đồng đều, chứ không phải do vua quan gây ra nên không dám oán giận bề trên. Những điều hay đẹp này là do tình vua với dân hợp nhau hoặc xuất phát từ tình cảm đó mà ra.
Kẻ làm dân chỉ cố một điều giúp đỡ vua, kính trọng quan mà thôi. Vua quan nếu có điều sai thất, thì cả nước đều đau đớn khổ sở. Vì thế mà thành thói quen, họ đều lấy việc giương cao uy tín của nước, bảo vệ thế lực của nước làm trọng, chạy ngược chạy xuôi chống giặc như sợ không kịp, lăn vào những nơi nước sôi lửa bỏng như đi vào nơi bình thường, cả nước có một tiếng xấu thì coi như do tự mình mà ra. (Những điều tốt đẹp trên đây là nói về toàn thể, là chỉ về đại dụng, tuy nhiên trong đó cũng có vài điều nhỏ nhặt không phải vậy).
Đối với những điều này, là sĩ phu bé phải học, lớn phải làm. Là người thôn dã, trong nhà ngoài xóm phải bàn luận khuyên bảo nhau. Nhờ đó dần dần trở thành truyền thống, thuần phong mỹ tục được lưu truyền. Ví dầu ai có lòng dạ nào khác, cũng không thể không theo đại thế, không thể không theo cái chung. Bởi vì trí xảo con người ta do tập tành mà được, thiện ác bắt nguồn từ học thuật và phong hóa cũng do từ học thuật sinh ra. Trong sách dạy như thế nào, thầy giáo chỉ vẽ như thế nào thì người học phải làm sao cho hơn những gì sách đã dạy thầy đã chỉ. Trong nước ai ai cũng phải có thái độ học tập như thế, và hành vi như thế. Bất kỳ Đông Tây, đó là cái lý lẽ chân xác không bao giờ thay đổi. Bởi vì:
1. Các nước đã có thuần phong mỹ tục rồi mà các vua quan lại biết khéo nhân thời lập thế, biết rõ phép tung hoành để kiềm chế lấy nhau, để dựa vào nhau, các nước đều liên hợp với nhau, mở toang các lớp cửa thì ta và người đều biết rõ mọi vật đều có chủ.
2. Đi lại giao hảo thân tình với nhau, tính kế ăn ở lâu dài với nhau, không chịu giúp họ khác lên thay ngôi vua mà mình chưa biết tình ý họ ấy như thế nào.
3. Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùng người hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dị nghị, sự nghiệp không suy đốn.
4. Kẻ làm dân thấy thiên hạ ca tụng vua mình, so sánh người và ta, thì hết lòng làm sao cho thiên hạ kính trọng vua mình hơn.
5. Các bè đảng biết rõ danh phận của vua quan đã định, thì vị tất trong một lúc mà các nước đều giúp cho mình làm bậy.
6. Các nước Tần Tấn Tề Sở sức lực đều mạnh ngang nhau không chịu để cho ai lợi mà mình hại.
7. Người ở thế lực trọng yếu biết rõ nhân tâm đã có chỗ chuyên hướng, những người đồng liêu đã liên kết ngoại giao, thì làm sao có thể thuyết phục hết người này đến người khác, cần gì phải ngấm ngầm kết bè phái đảng riêng nữa, bởi vì chỉ sự tổn hại cho mình mà không được lợi gì cả.
8. Nếu lập một họ khác thay ngôi thì phải có một sự thay đổi lớn, may mà được người khác giúp cho toại ý riêng, thì như thế là làm hại cho những người an phận thủ nghiệp, lợi riêng thì ít mà hại người thì nhiều, e rằng mọi người sẽ oán giận khó mà làm được.
9. Các nước đều bắt chước nhau, tranh mạnh lẫn nhau, tự phấn đấu cho tài xảo ngày càng thịnh.
10. Chỗ có và chỗ không giao thông trao đổi với nhau, chung nhau cái hay, đồng nhau cái lợi, bắt chước lẫn nhau để cho đạo đức phong tục được đồng nhất.
11. Điều thẳng lẽ cong đều công bố ra cho thiên hạ, việc sai đúng phải cho mọi người bàn luận, không dám tự mình che giấu bào chữa cho cái xấu.
12. Vua có bổn phận của vua, quan có bổn phận của quan, dân có bổn phận của dân. Danh phận mỗi người đều có cái quý trọng riêng. Người quý kẻ tiện không cướp đoạt ngôi thứ nhau. Cho nên người nối nghiệp, từ nhỏ đã không dám làm sai bổn phận của mình, lớn lên thi hành phận sự tất phải tinh thuần, cũng không dám vượt qua phận sự mà cải đổi sự nghiệp, vì e rằng trong bụng không có cái chí báo phục, thì một khi có việc gì cấp thiết sẽ khó bề chống đỡ. Hơn nữa, mỗi bổn phận có một cái cao quý riêng, không được có ý tưởng được voi đòi tiên.
13. Mỗi người đều được đặt để một vị trí. Khả năng nào thì vào nghề ấy. Trách nhiệm nhỏ thì dễ đền bù. Chức vụ nhỏ thì dễ giữ. Nghề tinh thì không sai. Dùng chuyên thì không bị xâm lấn. Việc bình thường thì không đến nỗi bỏ phế.
14. Mỗi người tinh một nghề. Mỗi nghề có cái kỳ diệu đáng quý của nó, đều có tiếng hay tiếng tốt đáng khen của nó, không có sự so bì bên khinh bên trọng. Như cái áo, có cái rộng cái hẹp, cái dài cái ngắn khác nhau để thích dụng cho hình vóc từng người. Người thấp thì không ghét áo dài, người nhỏ thì không chê đai rộng. Mọi việc có cái quý trọng riêng của nó, khi thành công thì đều giá trị như nhau. Như tay chân trong thân thể người ta, tuy có cao hạ quý tiện khác nhau nhưng cũng không vì thế mà ghét bỏ làm tổn thương lẫn nhau. Cho nên một người có cái kỹ xảo thì mọi người đều thêm vinh, một người có tài thì cả nước được tăng phần kính trọng. Mọi người tài giỏi đều cảm thông nhau thì không có cái hận ta hơn người thua, không có tình trạng ta mạnh người yếu. Cho nên trên dưới đều hết lòng với việc làm của mình, không có cái bệnh ghen ghét kẻ tài hiền.
Trên đây là mười mấy điều đại cương rút trong cái thuật tung hoành mà ra. Ngoài ra trong nhân dân còn có những sự liên kết với nhau để phụ giúp lẫn nhau như là kẻ đứng bên cạnh giúp vào, để giúp thêm vào mười mấy điều kia thì không thể nào kể hết được. (Còn như có những đường lối chính trị như thế nào đúng với tình cảm và lý lẽ này mà hợp với chính trị nước ta thì càng không thể kể hết, không cần phải nói rõ ở đây).
Đó là những điều mà sách kinh đời xưa đã ghi chép như vậy, các bậc hiền triết đã làm khuôn phép như vậy, những người khai sáng đã tạo lập quy mô như vậy, phong tục đã kết thành như vậy, các nước đã noi theo trật tự như vậy, mà một mai có người muốn lập lại một cái gì khác, thật cũng khó có thể làm được. Cho nên, bậc làm vua biết rõ cái thế trường cửu đã có, không có bụng nghi ngờ bề tôi ở dưới, kẻ làm dân biết rõ cái lợi hại của việc trị việc loạn nên không có cái chí phạm thượng. Trên dưới tự mình không nghi cũng không ngờ lẫn nhau. Mọi việc gì đều có sự phó thác rõ ràng, người nhận lãnh vui lòng, không có điều gì tối tăm, lo lắng, cho nên dễ đi đến chỗ đúng đắn, dễ bày tỏ, dễ cởi mở, dễ phân giải, tất cả đều là do thật lòng tin tưởng nhau, cho nên dù có sự bất bình cũng tin nhau, không nỡ trách cứ hà khắc. Được như vậy là đều do không nghi kỵ gì nhau mà ra. Nếu đã nghi thì hại đến lòng tin. Không tin tưởng thì đa kỵ, đa kỵ thì hại đến trí khôn, trí bị tổn hại thì dễ bị hỏng việc, việc hỏng thì sinh hại, hại sinh thì có lắm điều lo buồn, lo buồn nhiều thì tâm loạn rồi sinh ra lắm sự sợ hãi, sợ hãi nhiều thì khí chất kém đi mà sinh ra nhu nhược, nhu nhược thì mọi việc chần chừ do dự không dám quyết đoán. Nếu trong bụng không có định kiến chủ trì thì khi có ngoại hoạn nổi lên tấn công ta, ta sẽ không có cái gì đối phó lại, tất sẽ tán loạn tan tành, đại thế sẽ ngày càng giảm. Những cái đó đều do chỗ ta với người nghi ngờ nhau mà sinh ra cả.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #93 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:42:21 PM » |
|
Tôi nhìn chung thấy cái thế các nước trong thiên hạ xưa nay, các nước phương Đông phần nhiều cái hoạn ấy do tích tụ lâu ngày thành thói quen. Nhưng về học thuật thì cũng có cái giống nhau cái khác nhau. Nhưng hùng biện hay mà làm cho rối rắm điều phải trái khiến người ta có cái ý bỏ đây theo kia. Đó là do cái tệ quá đề cao hoặc quá hạ thấp mà ra. Có phú quý rồi mới thấy có tật; vinh nhục đã định rồi mới thấy điều tranh chấp, nhân tình là như thế đấy. Nghệ Tổ có nói rằng: “Ở địa vị như thế thì ai mà chả muốn làm”. Cho nên khi được gia ân lớn thì chiếm giữ lấy chỗ quan trọng để rồi họa hoạn sinh ra từ trong tay áo. Đã có trị tất có loạn, đó là lẽ thường tình. Người hay sinh chuyện thì lại mượn cớ người ta nói vua thất đức, trời sinh tai biến làm thực chứng, để ôm lấy cái ước vọng sai lầm của mình. Làm quan khi có điều gì sai thất, thì người ta sẽ nhân lúc bề trên nghi ngờ mà dèm pha vu khống, khiến người ta bắt chước làm con trượng mã, sợ nó hý lên một tiếng thì có người bị đuổi. Người nào cũng lo giữ lấy mình, không dám có phát minh sáng kiến gì. Người thợ không tinh kỹ xảo, người học trò không lo học để mãi sau ra làm quan. Hễ có nhiều những chuyện trục xuất, giáng chức, đổi chức, điều dộng, thì những mối lo được lo mất luôn luôn hiện ra trước mắt. Những tuồng đẩy người ta để tiến mình lên, rình mò sau lưng, đương chức mà như là ngồi trên đệm có kim chích, làm việc thì lo như là bị gai đâm, không được thung dung để phát triển điều hay. Kẻ đắc thời biết có con đường có thể tiến thân, có thể thừa cơ được cho nên cứ muốn vượt người ta mà ngoi lên. Như người xưa nói: “Thà làm đứa chăn trâu đầu đàn, chứ không làm ông quan lớn hạng nhì trong triều”. Biết có chỗ phục thù, bọn người đắc chí, cứ hớn hở mà đi để quyết hả cái hận “được làm vua thua làm giặc”, như người xưa nói: “ Không lưu tiếng thơm muôn thuở, thì để tiếng xấu vạn năm”. Lại có một loại người, động một tý là mượn thánh hiền, hễ có việc bất bình thì vội đòi phế lập. Có cái chí như Y Doãn cũng nên. Sao không biết rằng người đâu phải ai cũng là Nghiêu Thuấn cả mà việc gì cũng làm được hay được tất cả. Theo lẽ thường tình mà nói, thì vua quan đều có phận sự riêng, ai chẳng muốn ở cho yên hưởng cho lâu. Cho nên ra làm điều gì thì muốn việc cho được, công cho thành, đó là bản chí của mọi người. Nếu có làm điều gì sai lầm ngoài ý muốn, hoặc cơ hội lầm lẫn thì lo thay đổi gấp để cho người ta không sửa đổi kịp. Như thế là giáo dưỡng người rất khó mà vứt bỏ người thì quá dễ. Đường tài đức xét ra không cùng dẫu muốn đoạt lấy hết tài đức trong thiên hạ cũng không lấy hết được. Như uống nước sông, tùy lượng chứa của mình rộng hẹp, nhưng tất cả đều được no đủ, không cần phải đoạt lấy của người để làm dồi dào cho mình. Hơn nữa, hiền tài là sinh lực của quốc gia, sinh lực con người ta mà mạnh thì mọi gân cốt trong người đều mạnh. Thế thì tại sao không nghĩ đến lợi ích chung, không lo đến hạnh phúc chung? Mình đã không tốt lại còn muốn người khác xấu để chia cái xấu với mình. Như ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Kéo người ta xuống vũng nước dơ mong cùng lấm như mình”. Mình đã không có tài thì không muốn cho người có tài để khỏi lộ cái dở mả của mình ra, rồi làm đủ cách để chôn vùi người ta đi. Như người ta thường nói: Tài là hay đi với cái hoạ, thật là cái họa của sự có tài vậy. Kẻ sĩ bất kỳ có tài giỏi hay không, cứ vào triều là sinh tệ cả. Thế thì nước nhà còn mong gì mà dành tài được? Sĩ phu tội gì mà ôm tài hại thân? Lại có một loại tệ hơn, tiếng là đào tạo tài, nhưng thực ra vứt bỏ tài. Sở dĩ được thành tài phần nhiều là do tích lũy thuận đạo, như người ta thường nói: Con nhà tướng ra cửa nhà tướng. Nay hễ nghe khen thì mời về, nghe chê thì đuổi đi. Việc chứa giữ tài nguồn gốc của nó thật sâu xa, mà việc dùng hay bỏ tài thì lại bỗng chốc tạm bợ. Như vậy chẳng những cô phụ việc cầu tài của trên mà kẻ có tài cũng vô dụng; khiến đến nỗi kẻ có tài sau này bế tắc không đường thăng tiến; khiến kẻ có tài mà không gặp hội phải vất bỏ hết bao công lao trước kia mà thay đổi nghề nghiệp như Hứa Hành, thật là chua cay, khiến đến nỗi sau này có cái hận làm điều thiện mà không được báo đáp, như người xưa có câu than thở “giận mình đã lầm lỡ làm kiếp nhà Nho”. Cho nên nhiều người tức tối thất vọng, thất chí không có nơi nương tựa để phải mắc vào nhiều tội ác. Người ta đâu phải gỗ đá trơ trơ, ai không muốn sửa chữa tội lỗi trở thành người hiền lành. Dù có kẻ ngu ngốc không đổi nết thì cũng nên nghĩ đến công lao trước kia của người ta, để khuyến khích kẻ hậu tiến, để bù đắp cho hậu đạo, ai lại nỡ để mình làm quan đại thần mà con cái đi ăn xin. Đến nỗi khiến người xưa có câu: “Có thể làm quan thanh liêm được, nhưng không thể làm”. Con cháu của Thang Võ cũng không có đất cắm dùi. Như thế thì hiện nay ai chịu bỏ sự hưởng dụng cả một đời để đổi lấy cái cơ cầu ngày sau chưa chắc chắn ấy? Cho nên người xưa có câu: “Cười chê chửi mắng mặc thây, Quan to lộc hậu thì đây cứ làm”. Những cái đó đều do biết rõ cái thế không được lâu dài, hưng vong chưa ổn định, thịnh suy không biết lúc nào, phải trái không đích xác, được mất bất thường, thực hư không phân biệt, thưởng phạt không lâu dài, ra làm quan hay ở nhà không định trước, tiến thoái không tính liệu, như nước trong ống xe đạp nước, như sóng nơi trường giang, như tiếng sáo diều, như hình mây cầu vồng. Kẻ thất phu lên làm vua thì không kể gì thế hệ. Vua xuống làm dân quê thì tính chi đến chuyện cao thấp. Từ trên xuống dưới không ai là không ôm cái quái thai ấy. Cho nên phải giải quyết cái căn bản là phải thấy được cái gì làm cho lòng người dao động. Các nước lớn ở phương Đông, xưa nay lên xuống đại loại đều như thế cả. Là vì không tinh thuần đạo học, không đồng nhất tâm thuật, không có cái thế liên hợp, không coi trọng danh vị mà gây ra cả. Còn như các nước Đại Tây, Tiểu Tây cùng các nước Nam Tây Châu thì trái lại, đúng như đầu mỗi bài kinh đã ghi, tuy có sớm muộn khác nhau, nhưng đến nay đều đã dần dần biến đổi cả rồi. Khi chưa biến đổi, các nước ấy còn tệ hơn ở phương Đông, điều đó sử cũ đều có ghi chép, chỉ nhìn qua cũng thấy rõ. Nhưng những việc đó đã thuộc về dĩ vãng không nói làm gì, bây giờ chỉ nhìn vào sự tân tiến của họ cũng đủ chứng tỏ sự xưa và nay khác nhau rất xa. Người ta ai cũng lo gấp phòng bị hoạn nạn, mà không biết cách làm sao cho hoạn nạn đừng sinh ra, không biết làm sao cho hết hoạn nạn, mà chỉ lo sắm những cộng cụ phòng bị hoạn nạn. Như thế thì dù có xua hết thiên hạ ra làm cũng không đủ. Nếu biết dựa vào sức và nhờ vào thế của nhiều người, sao cho mọi người đều quan trọng việc công và lòng người đều tôn kính bề trên, như Giả Nghị nói: “Gieo vào lòng người sự tôn kính” thì thiên hạ không có loạn. Vì rằng danh đã định, vị đã lập, lý đã chính, thế đã đồng, các nước đều như vậy cả; lẽ nào một nước lại có thể trái với các nước mà đứng riêng một mình một cõi được sao? Tôi đã hiểu rõ cái chính lý của đạo trung ái trong kinh, biết rõ danh vị là lợi ích cho nhân dân, thấy thiên hạ có sự yên trị lâu dài, lợi ích to lớn là do chỗ một họ cầm quyền, do chỗ đời đời truyền nối. Mà chế ngự được nhân tâm là do trị lý về kinh tế, và duy trì được đời đời dài lâu là nhờ ngoại giao. Cho nên tôi thiết tha muốn cho nước nhà cũng được hạnh phúc tốt lành như thế. Kính bẩm
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #94 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:33:11 AM » |
|
DI THẢO SỐ 14 Tình hình lương giáo ở Nghệ An* (22 tháng 4 năm Tự Đức 19 tức 4 tháng 6 năm 1866) Nguyễn Trường Tộ kính bẩm. Tôi sau khi từ Kinh về đến Xã Đoài tỉnh Nghệ An, những điều mắt thấy quả đúng với những gì đã nghe được mà còn hơn thế nữa là khác. Cứ theo cái đà này thì sự việc sẽ lan ra mãi chưa biết khi nào dứt. Đầu mối của sự việc là do sĩ phu, nhưng cái gốc của nó cũng do những người có quyền lực xướng xuất ra nữa. Cho nên tôi cứ nói ra không sợ oán trách; dù sau này có vì nói những điều này ra mà phải chết tôi cũng không quản. Đấy là nguyện vọng thiết tha của tâm tình, vì hai vị đại nhân mà nói. Bởi vì đã dùng quyền lực mà sinh sự thì muốn yên việc cũng phải dùng đến quyền lực mới được. Trước đây, nhân chuyện người Tây đột nhiên đến, Triều đình chưa rõ vì ý gì, nên tiến hành việc phân tháp 1 để tạm thời giải tỏa sự nghi ngờ. Nhưng việc làm của Triều đình là do ý muốn yên dân, chứ không như việc làm của bọn ngoại gian, lửa đổ thêm dầu, làm điều ác độc ngoài pháp luật, rắp tâm muốn giết cho hết mới thôi! Ôi người xưa khóc kẻ có tội, làm tỉnh ngộ người trong ngục, tội nghi thì xử nhẹ, ăn ở có tình người ai lại không vui? Thậm chí, có người còn không muốn làm quan ở miếu đường, mà xin làm viên quản ngục, chính vì để được thương người đồng loại. Cái đức lớn là quý trọng sự sống. Điều đáng ghét là tội ác, điều đáng yêu là tình người. Tuy dưới dân phạm luật đáng giết, nhưng đối với quan trên, phải chém người cũng là điều đáng khóc thương. Nhờ thế mà hòa khí tích tụ ở dưới, điều tốt lành ứng ở trên; lúc bình thường bao nhiêu việc tốt lành liên tiếp đến, khi có biến những việc quái dị cũng sẽ tiêu tan. Như thế cũng khéo tránh được, khiến người phạm tội tự nhận tội, mà không làm điều gì hại đến hòa khí. Bởi vì khi con người ta đã mang tội với pháp luật dương gian, mà mình còn đổ cho người ta bao nhiêu tiếng ác nữa, thì mình cũng có tội nơi u đồ 2, cả hai đều có tội như nhau. ____________________________________ *. Bản Hán văn Hv 189/1 tờ 98 - 103. Bài này được viết từ Xã Đoài, Nghệ An, đề ngày 22-4 năm Tự Đức 19 (tức 4-6-1866). 1. Phân tháp: Phân là chia tách ra; tháp là cấy vào. Chính sách thời Tự Đức chia tách các cộng đồng giáo dân rồi cưỡng bức đưa đi ở rải rác những vùng xa xôi không có đạo để cô lập và quản thúc họ. 2. U đồ hoặc minh đồ đều chỉ địa ngục, nơi tối tăm u ám mà người có tội phải chịu hình phạt sau khi chết.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #95 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:35:39 AM » |
|
Những người có lòng nhân ái đời xưa không những lấy điều thiện của người khác coi như điều thiện của mình, hơn nữa còn nhân điều ác của người khác mà đem lòng thương xót, để sâu dày đạo đức. Bởi vì người có tội, có khi đáng tội, nhưng cũng có khi lầm đường, chưa thể biết được. Tuy đã phải chịu luật pháp của vua, nhưng cuối cùng phải do sự phán quyết của đạo trời, hoặc có khi còn được cải án là đàng khác. Nếu mình ghen ghét đố kỵ người ta, tuy bề ngoài đã hoặc chưa giở những thủ đoạn ác độc, nhưng trong lòng cái ác ấy đã kết thành, do đó trong thầm kín đã có thần linh tru phạt, vĩnh viễn không bao giờ cải cái án ấy được. Không những thế mà thôi, phàm các loài đã được sinh ra trong thế gian, không loài nào tạo vật không muốn cho nó sinh trưởng nhiều thêm. Tuy có lúc ngửa nghiêng, có khi bị dịch lệ mà tiêu hao ít nhiều, nhưng không trở ngại gì đến việc sinh sống. Thế sao có người lại muốn cắt đứt thiên căn, lập bằng địa đạo 1, không chịu ở chung với nhau, cùng sinh cùng dưỡng. Hiện nay ở tỉnh Nghệ hai bên lương giáo lòng đang sôi sục. Một bên nói không thể nào chung sống, phải giết cho hết tiệt mới thôi. Một bên nói con thú mà bị khốn quẫn còn cắn càn huống chi là con người? Nếu bên kia không để cho cùng sinh cùng dưỡng, thì bên này cũng không để bó tay chịu trói... Nhà nào ngõ nào cũng xôn xao bàn tán chuyện đó. Tôi lấy làm lo ngại mà không có cách nào giải quyết. Bởi vì sĩ phu trong tỉnh hạt có nhiều ý kiến khác nhau. Đã nói ra khó với lại được. Hơn nữa sự thù hằn này đã sâu sắc, việc làm ác độc này đã kéo dài, lòng không sao yên được. Cho nên không ai chịu tự giải thích cho mình, cũng không chịu giải thích cho người khác. Đúng như đạo dụ của Thánh thượng trước đây có nói “Giáo dân tỉnh Nghệ hơn tám vạn, trong đó có nhiều tay không vừa, trừ phi có chiếu chỉ rõ ràng của Triều đình mới không dám kháng cự. Còn giữa dân với dân thì như nhau cả, nếu bức bách họ làm sao họ chịu yên được?” Ở phương Tây trước kia đã có lần đại loạn gọi là chiến tranh tôn giáo. Đó là cái gương cho chúng ta soi. Vả lại, hai chữ “ lương, dữu” chẳng có quan hệ gì đến sự thế quốc gia cả. Thế mà khắp cả tỉnh người người đều luôn mồm lấy hai chữ đó nhục mạ nhau. Một lời nói mà không chịu là xách dao đến chém nhau. Đó là điều tệ mà Triều đình đã cấm. Nhưng trong làng xóm người ta còn cậy thế lực hào lý áp chế nhau, còn dựa vào tục lệ mà tích oán thành họa. Lại còn một tệ đoan nữa là trong bình dân 2 có nhiều người quyền quý và những người có thế lực quan trọng liên kết với nhau nên dễ bề bày đặt khiến mọi người nghe theo. Ngay như trước đây khi Triều đình phân tháp họ đã làm những điều ác độc phi pháp, khắp nước chưa có đâu như tỉnh Nghệ. Ý họ muốn giết cho hết không sót một ai, như thế họ ăn nuốt mới trôi! Bởi vậy khi nghe có ân chiếu của vua, họ liền nói: “Triều đình hành sự như trẻ con”. Thủ đoạn ác độc đó thật quá lắm vậy. Nay sợ giáo dân kiện quan, bắt bồi thường những của cải mà trước kia họ đã lấy càn của giáo dân, nên họ nói đủ những lời đe dọa. Nay thì nói Triều đình sắp phá hòa ước sẽ giết chúng bay. Mai lại nói chúng tao sắp cùng nhau giết chúng mày. Triều đình có chiếu lệnh điều hòa lương giáo thì các phủ huyện giữ kín không chịu thông tri ra. Giáo dân chỉ nghe phong thanh mà thôi. Như việc lần trước Triều đình miễn thuế cho những người giáo dân sau khi bị phân tháp mới trở về, thế mà dân chẳng ai biết. Vì vậy nhiều làng bị lý dịch vẫn cứ trưng thu đủ số. Tuy có đại ân mà cùng dân chẳng được hưởng tí gì. Việc lớn còn vậy thì biết việc nhỏ như thế nào. Lại có một loại người bịa ra rằng ta đây vốn biết thâm ý của Triều đình: Ngoài thì hòa nhưng trong thì sợ. Như trước kia có lần đã bắt kê khai hết giáo dân nạp lên quan, có lần truy hỏi mỗi xứ có mấy linh mục. Hai việc ấy họ giải thích xuyên tạc rằng: Quan lớn này nói: “Dần dần sẽ tính”, quan lớn kia nói: “Phải ngấm ngầm đề phòng bọn đạo”, quan lớn khác lại nói: “Bọn đạo không biết dao kề sau cổ, như chim én ở trong nhà, chẳng lâu lắc gì nữa đâu!” Vị quyền quý này nói: “ Triều đình đã ngấm ngầm cầu viện, đã định ngày nổi lên giết Tây. Lúc đó bọn chúng tao sẽ đồng thời giết chúng mày. Không tin cứ xem trong bình dân nhiều người đã rèn khí giới rồi đó. Nếu chẳng phải Triều đình ngầm cho như thế hỏi người ta dám làm hay sao?”. Những lời bày đặt dọa nạt như vậy đi đâu cũng nghe nói. Cho nên, giáo dân một mặt thì sợ, một mặt thì hiểu lầm, người nọ bảo người kia, sự sợ hãi ngày một gia tăng. Thậm chí có người không thiết làm ăn, sợ thân như cá trong chậu. Thậm chí có người không làm việc gì nữa, chỉ lo trối trăn vĩnh quyết. Thậm chí có người chạy chọt đến những người bình dân ở xa, mua chuộc cảm tình để lo trước chỗ ẩn thân. Dân tình thế đấy hỏi làm sao yên ổn lâu dài được? Xét cho cùng cũng bởi một là do ơn trên chưa được rộng khắp, hai là do sai lầm trước chưa giải thích được, ba là do bọn ăn không ngồi rồi bịa đặt mà gây liên lụy, bốn là do bọn cường hào tác uy tác phúc ngoài pháp luật, năm là do bọn quyền quý mượn uy thế dọa nạt người, sáu là do dân đạo không yên tâm phải luôn luôn ngó trước nhìn sau. Những điều ẩn khuất như vậy, ở đây mười điều tôi chỉ mới nói một mà thôi. Bởi vì chuyện đời thường ở trong thì nhỏ mà ngoài xé ra to. Huống chi những việc bình dân dọa nạt đâu phải mới một ngày một bữa, lâu rồi phải khiến người ta tin mà sợ 3. Đại nhân là người quan hệ đến việc khinh trọng của nước nhà, nên tôi dám đem trình bày rõ việc trên. Nguyên trước đại nhân đã xá cho tôi cái tội biết mà không thể không nói. Riêng tôi cũng tự tin rằng tôi không nói dối. Đại nhân ở chốn xa xôi ngàn dặm, nếu như tôi kiêng dè không nói ra, thì những điều ẩn khuất làm sao thấu đến đại nhân được? Nay kính bẩm. ____________________________________ 1. Thiên căn: Cái gốc của trời. Địa đạo: Đạo đức của đất. Ý nói trời che đất chở, đức lớn bao dung. 2. Chỉ bên lương. 3. Nguyên văn: “Đầu trữ nhi khởi” nghĩa là ném con thoi mà đứng dậy. Tích mẹ Tăng Sâm đang dệt cửi, có người đến bảo cho bà biết “Tăng Sâm giết người” Bà cũng không tin, vì con bà là người hiền, nên cứ tiếp tục ngồi dệt vải. Lại có người đến nói “Tăng sâm giết người”. Bà cũng không tin. Sau nhiều người đến nói như vậy quá, cuối cùng bà ném con thoi đứng dậy mà xem. Thì ra đó là Tăng Sâm trùng tên chứ không phải con bà. Chuyện không đúng mà nói nhiều quá, khiến người ta cũng phải tin.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #96 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:37:39 AM » |
|
DI THẢO SỐ 15 Lại tâm sự với Trần Tiễn Thành* (Ngày 3 tháng 5 năm Tự Đức 19, tức ngày 15 tháng 6 năm 1866) Tôi là Nguyễn Trường Tộ xin kính bẩm. Trước đây khi ở Kinh đô tôi đã thấy được nỗi lo âu về việc nước của các vị đại thần, lòng nhiệt huyết của các vị phải nghĩ đến nhiều việc một lúc mà chồng chất trước mắt rất nhiều. Tôi đã thấy rõ đại thế trong thiên hạ có cái cơ có thể thịnh có thể suy, thấy rõ tình hình nước ta gặp lúc cả nghi ngờ, khó khăn lớn, thấy rõ cái ẩn ý chứa chất trong lòng dân các tỉnh trong nước, thấy rõ các quan địa phương làm việc công, việc tư như thế nào; thấy rõ bọn Thắng, Quảng gốc rễ chưa dứt, còn nhiều thế lực ngầm giúp, còn nhiều cớ gây sự; biết rõ bình dân và giáo dân còn nhiều mâu thuẫn tất sẽ có một bên bị tổn thương, mà khó bề xử trí; biết rõ giáo dân có nhiều ngách ngõ, có nhiều tài trí, đủ sức làm việc chung, cũng đủ sức tự vệ; biết rõ bình dân trước kia ỷ thế chất chứa thù hằn, làm những điều phi pháp hại người, để đến nỗi làm cho lòng người không yên; biết rõ người Tây còn như hổ rình mồi, sức ta chưa đủ, nếu không khéo điều đình sẽ ngã theo bánh xe trước; biết rõ nước ta có nhiều khiếm khuyết, những phương pháp cũ đã hoàn toàn vô dụng mà còn câu nệ ngăn trở công việc, còn nhiều chỗ nghi nan chưa tiêu tan, ý kiến chưa đồng nhất, chứng bệnh tích tụ lại chưa tiêu trừ, những yếu nhược tích tụ lại chưa phấn chấn, đường hiền tài còn bế tắc, trí học chưa mở mang, những tệ hại đó còn chất đầy, những tai họa còn dồn đến chưa chỉnh đốn hết được; biết rõ những phương pháp mới nên làm, tập tục cũ nên đổi, ôm của báu mà chịu nghèo đói sợ người khác cười chê, chỉ cho người món lợi sợ họ tranh phân, của cải hao hụt khó bề khởi sự, thành trì tổn hại khó bề chống đỡ, nguồn lợi đầy đất mà khó khai thác, tung hoành chưa được, chưa ai giúp đỡ, không làm thì không xong việc, mà làm thì lại không có người. Những tình thế đất nước như vậy ở các nước khác người ta lo liệu hàng trăm năm rồi, mà nước ta mới thấy một ngày. Các nước làm thực sự mà ta thì chỉ nói suông. Cho nên Triều đình sớm chiều nhọc mệt, xoay xở không kịp, chưa biết tính sao, nghĩ tình cảnh cũng khó lắm vậy. Những điều ấy trước đây khi ở Kinh, tôi đã mắt thấy tai nghe. Thế nhưng ở nước ta vẫn có nhiều người chưa hiểu thấu tình cảnh ấy của Triều đình và cũng chưa biết làm cách nào. Tôi biết rõ đại nhân cũng cùng nỗi khổ ấy, mà tri âm thì chẳng mấy ai. Tôi là người đã trải biết nhiều người nhưng thật khó mà có được một người để bày tỏ lòng những chứa chất khó chịu, cho nên dám đem những điều này nói với đại nhân. Vì đại nhân là người tài lực như vậy, cũng đủ chia sẻ mối lo với Triều đình mà giúp cho việc lựa chọn người, biết đâu sẽ chẳng như trường hợp theo Khổng Tử thì có trọng Do, môn hạ Mạnh Thường Quân chỉ có Phùng Hoan là người sau cùng giữ được khí tiết. Kính mong đại nhân xét kỹ, không nên vì hiện tại chưa rõ sự thế, không nên vì mới một ngày chưa để lộ tài năng 1 mà nghi ngờ kẻ sĩ trong thiên hạ. ____________________________________ *. Bản Hán văn 189/1 tờ 103-104. Bài này được viết từ Nghệ An, không biết có được gởi đi hay không được gởi và được cất giữ trong gia đình Trần Tiễn Thành, chứ không thấy được lưu trữ trong Thư viện của Triều đình, bởi vì hầu như không ai được đọc bản văn này. Bản văn chúng ta hiện có trong Hv 189/1 có lẽ là bản thảo được cất giữ trong gia đình Nguyễn Trường Tộ, do ông Đào Duy Anh sao lại được. 1. Nguyên văn: “Vị đắc thoát chùy” nghĩa là: “Mũi kim chưa được ló đầu ra”, lấy câu nói của Mao Toại thời Chiến quốc. Mao Toại là môn khách của Bình Nguyên Quân. Khi nước Tần đánh nước Triệu, vua Triệu sai Bình Nguyên Quân chọn 20 môn khách gồm đủ văn võ đi theo, nhưng chỉ chọn được 19 người. Toại xin đi theo cho đủ số. Bình Nguyên Quân có ý ngờ tài năng của Toại, Toại nói: “Tôi bây giờ mới như cây kim còn cất trong bọc, được dùng mới lòi mũi ra”. Quả vậy, sang nước Sở, Toại đã dùng ba tấc lưỡi thuyết phục được vua Sở cho quân đi cứu nước Triệu.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #97 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2010, 08:39:42 AM » |
|
DI THẢO SỐ 16 Bài bạt mừng đào xong thiết cảng*Từng nghe: Đấng tạo vật lập nên trời đất, mở sông ngòi để làm mạch lạc, dựng núi non để làm xương cốt. Hai cái này giúp nhau mà làm việc. Nếu xương cốt có chỗ gẫy gập thì mạch lạc cũng đứt không thể thông thấu nhau được. Đó cũng là cái bệnh ứ tắc của đất. Khôn khéo như tạo vật mà còn để lại khuyết điểm này cho đất phải có điều đáng tiếc. Đó không phải do vụng về mà ý tạo hóa muốn vậy! Thợ tạo còn sinh ra muôn vật trên mặt đất để làm cái công cụ to lớn đẹp đẽ của đất, mà tất cả đều nhờ vào những giòng nước để lưu thông hòa hợp. Nếu có chỗ nào giòng nước không đạt đến thì muôn vật trên mặt đất cũng bị chia lìa cách trở không thể tô điểm cho mặt đất hoàn toàn đẹp đẽ được. Đó cũng là cái bệnh bất túc của đất. Như ở biển thiếu gỗ, ở núi thiếu cá. Khéo sắp xếp để nên việc như tạo vật mà còn thiếu sót cho đất, không được đồng đều nhau. Đó không phải do vụng về mà ý tạo hóa muốn vậy! Ý muốn như thế nào? Giả như trời đất chỉ có một vật không có linh giác mà không có con người thông minh trí tuệ sống ở trong đó để nuôi nấng điều động, giúp cho tạo hóa những chỗ thiếu sót thì cái công dụng tạo thành trời đất tạo thành vật loại cũng chưa hoàn toàn và cũng chưa làm tỏ rõ được chỗ kỳ diệu của tạo vật. Giả như sự bài trí trên mặt đất này mà không có chỗ cách trở thì con người chúng ta cứ tự nhiên hưởng dụng chẳng góp phần gì vào việc đó, chỉ làm theo tự nhiên mà chẳng tự biết gì cả, thế có khác gì loài vật không linh giác, mà loài người cũng chả có gì là đáng quý. Trong tam tài 1 con người ở vào giữa có thể sai khiến mọi vật, phàm ở trên đất có cái gì không đồng đều, đều có thể thông đồng hòa hợp, hình thế trên mặt đất có chỗ nào chưa được hoàn toàn, đều có thể chữa trị bổ khuyết để phụ vào cái kỳ diệu của tạo hóa đã sinh ra con người chúng ta. Như thế là tạo hóa cố làm ra những chỗ chưa hoàn toàn này để dành cho chúng ta bổ túc, mà do đó mới có con người sinh ra ở giữa trời đất này. Có thể bổ túc được công việc của tạo hóa thì cũng đồng với tạo hóa. Cho nên phải có con người siêu việt mới có thể có cái linh giác to lớn mở được nguồn mạch mà chữa cái bệnh bế tắc của địa hình. Nay xin kể sự thực của nước ta để chứng minh. Từ khi có trời đất đến nay, sông núi nước ta vẫn y như cũ. Phàm có chỗ nào đường nước chưa thông thì trời sinh người thế hệ nào đủ giải quyết công việc thế hệ đó. Đối với những kênh nào có thể đào vét được thì tiền nhân đã đào vét và hoàn thành cả rồi. Duy có một Thiết Cảng này Triều đình trước đã tốn không biết bao nhiêu tâm lực vẫn không làm xong. Đó cũng vì tiền bạc thì ít mà công việc thì quá khó, lại không lượng sức muốn cưỡng làm cái công việc mà tạo hóa có ý lưu chậm lại đến ngày nay, cho nên không thể xong việc được. Nếu có thợ trời thầm giúp như Cao Biền với kênh Thiên Lôi chẳng hạn thì đã trợ giúp cho Triều đình trước rồi. Kênh kia tuy hoàn thành nhưng trời đã chia công một nửa khiến con người không được làm trọn vẹn cái đẹp của riêng mình. Và như thế cũng chưa đủ làm tỏ rõ cái kỳ diệu của đạo trời vậy 2. Phàm việc gì nhiều đời muốn, nhiều người cầu mà không được, cái đó mới vĩ đại mới quý báu, thế mà một sớm đã được rồi để hoàn thành cái chỗ thiếu sót của đất. Việc đó bậc chí nhân đâu có kể công, mà bút mực lời lẽ cũng không thể nào kể hết được. Nay đại nhân vừa gặp đúng lúc trên làm tỏ rõ cái bí mật của trời mà lại thừa kế tiền nhân hoàn thành được cái sở dục sở cầu, thế là không những người sống chịu ơn mà kẻ chết cũng ôm lòng cảm kích, hơn nữa đã không phụ cái ý trời đã lưu chậm lại để đợi ngày nay vậy. Đại nhân quả thật đã bổ túc được chỗ thiếu sót của trời đất và trọn vẹn được cái địa vị mà ý trời dành cho con người xuất chúng. Còn nói về cái lợi vô cùng đối với đất nước mà riêng tỉnh Nghệ được thừa hưởng nhiều hơn thì từ nay về sau con người sinh mãi sinh mãi không cùng, công nghiệp ấy cũng dài lâu không hết. Đã có bia miệng ngàn đời không mòn không mất không đổ không hư, khiến tên của đại nhân cùng lưu truyền với con kênh này cũng đã đủ, cần gì phải bắt chước người xưa uổng công xây dựng bia đá khắc văn chương cho mưa dập gió vùi rêu phong cỏ lấp ư? Nếu muốn nói sự lợi ích rộng lớn của con kênh này thì chỉ có hai chữ “vô cùng” mới nói hết được và đã có những người chịu ơn vô cùng thuật lại cho, đâu phải kẻ tiểu tử này trong một lúc nói mấy lời trên một trang giấy mà thuật hết được. Vậy xin dừng bút chẳng dám nhiều lời. Nay kính dâng lời bạt này để chúc mừng. ____________________________________ *. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/4 tờ 21-24. 1. Tam tài là trời, đất và người. 2. Ở đây Nguyễn Trường Tộ nhắc đến sự tích về cảng Thiên Uy mà Nguyễn Trường Tộ gọi là cảng Thiên Lôi, theo Nguyên sử chép rằng: Cao Biền đi tuần dương ở Dương Châu, thấy lòng sông lắm đá, thuyền bè đi lại không tiện, bèn sai Lâm Phùng và Dư Tồn Cổ đưa quân đi khơi vét, gặp một chỗ có hòn đá lớn lắm, đứng trơ trơ giữa dòng, quân lính không làm thế nào mà phá tan được. Một hôm trời mưa to gió lớn có chừng hai trăm tiếng sét đánh luôn vào, làm cho hòn đá ấy vỡ tan ra, từ đó dòng sông mới thông. Vì có uy của trời sấm sét, cái kênh ấy mới thành, cho nên đặt tên là “Thiên Uy Cảng” (Xem bài của Nguyễn Đức Tánh: “Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh”, Nam Phong số 138, tháng 5 năm 1929, trang 247.)
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #98 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2010, 08:51:46 PM » |
|
DI THẢO SỐ 17 Dùng giám mục linh mục vào việc canh tân* (Khoảng 17-18 tháng 8 năm 1866) Kính bẩm, Nay giám mục lên Kinh đô, những điều trước đây tôi đã bẩm điều gì hoãn điều gì gấp giám mục có thể trình bày rõ được. Còn việc sắp đặt và sai phái như thế nào sẽ do Triều đình quyết định. Trước đây giám mục đã từng bàn bạc với tôi rằng nếu Triều đình muốn lần lượt canh cải để làm theo phương pháp mới thì người rất vui mừng ủng hộ. Chỉ vì nay ta chưa có người. Nếu thật tâm tin nhau khẩn khoản yêu cầu, giám mục sẽ đưa các linh mục và đạo đồ, một số có khả năng am hiểu tiếng Tây, học qua một vài phương pháp của phương Tây như Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Nguyễn Lâu 1 chẳng hạn sang Tây trước, học gấp các kỹ thuật mới mỗi thứ một năm rồi về sớm giúp vào việc áp dụng thi hành. Bởi vì bọn họ học sơ qua gấp rút trong một năm vẫn còn kết quả hơn là Triều đình mở trường mời người Tây đến dạy học trong mười năm. Đó là những điều giám mục nói riêng với tôi như vậy. Về phần tôi, tôi chỉ dùng lời khéo léo dẫn dụ giám mục và các người ấy để họ vui vẻ cầu tiến mà thôi, chứ tôi không có quyền sai sử. Nếu Triều đình muốn gấp rút thực hành để tạm thời ứng dụng thì chỉ nên bắt đầu một hai người và trong khi thương nghị cùng giám mục nên nêu rõ tên những người Triều đình muốn khẩn phái sang Tây học tập. Giám mục sẽ không từ chối được. Nhưng không nên nói cho giám mục biết đó là những điều tôi đã góp ý trước với Triều đình. Còn như việc ba tỉnh trong, hiện nay đó là vấn đề khẩn cấp. Trước đây ở Kinh đô tôi đã có bài bẩm nói rõ các cách đối phó để chống lại sự lập công của Tây soái. Các cách tuy có hoãn gấp khác nhau, nếu sớm áp dụng mới có thể chống được. Bằng không, một khi đã rơi vào tay họ, chắc chắn khó móc ra được. Nay trong khi hội kiến cùng giám mục, nhất thiết chớ nên cho vấn đề này là khẩn yếu mà xin giám mục giúp đỡ. Chắc chắn giám mục sẽ không dám nhận lời. Chỉ cần yêu cầu giám mục vào Gia Định sớm, độ mấy hôm thì đi Tây ngay. Trong khi tiếp xúc nói chuyện cùng các quan Tây cần phải trưng dẫn giải thích khúc chiết và dụng ý khéo léo. Thí dụ như nói rõ rằng hiện nay ta thật tình muốn hòa hiếu và giữ lễ hết sức cẩn thận. Mặc dầu có tiếng đồn đại qua lại, đó chẳng qua do bọn chất chứa oán thù muốn mượn việc bịa ra chứ chẳng liên quan gì đến đại thế quốc gia cả. Nói rõ rằng Triều đình rất tin tưởng giám mục, phó thác cho giám mục sang Tây tìm kiếm các phương pháp mới. Nói rõ rằng Triều đình muốn giám mục đến La Mã đạo đạt lên Giáo hoàng về ý muốn giao hảo. Nói rõ rằng Triều đình rnuốn sai người sang Tây học tập và mời người Tây sang nước ta mở trường dạy dỗ. Nói rõ rằng Triều đình muốn cùng chia sẻ điều hay điều lợi với người Tây. Nói rõ rằng những việc làm của bọn quân đội thất nghiệp ở Nam kỳ không phải do Triều đình ngầm ủng hộ. Nói rõ rằng tất cả những thỉnh cầu của người Tây mà không quan ngại đến thể diện nước Nam đều được Triều đình vui vẻ đáp ứng. Cứ thong thả đem các sự tình ấy truyền rộng ra để cho nguyên soái và các đại học sĩ, các nhà quyền quý, các giám mục bên nước ấy đều biết rằng Triều đình hiện đang làm như vậy không phải muốn hợp nhất với Tây là gì? Đó là cách ta xen vào bên trong mà tuyên truyền rỉ tai vậy. Tôi thiết tưởng giám mục chỉ có thể giúp đỡ được như thế. Còn nếu cứ yêu cầu đích thân giám mục trực tiếp chỉ việc nói rõ với Tây soái, chắc chắn giám mục sẽ không dám nhận lời. Hơn nữa làm thế sẽ có nhiều quan ngại. Bởi vì nếu Tây soái biết giám mục làm thuyết khách thì lời giám mục sẽ khó lọt vào tai. Ngày sau nếu có chuyện gì khác, sẽ không có ai dọ tin tức cho. Phàm sự đời lời nói chính thức không hiệu quả bằng lời giải thích phụ, đánh gấp không bằng đánh lén. Vả lại việc dùng người cũng tùy sở năng, cây gỗ lớn có thể dùng để đánh thành nhưng không thể dùng để đào hang chuột. Nếu sai sẩy thì bao công lao cũng trở thành không. Còn về phần tôi cũng nhất trí dùng cái lý lẽ từ ngoài nói phụ vào, như thế cũng có thể ngầm giúp được một đôi điều. Hơn nữa nếu tôi đến Gia Định tìm kiếm các quan Tây ngày trước chống đối Tây soái ngầm hỏi họ xem theo tình hình nước Tây như vậy có cách nào để cứu vãn tình thế của ta không, việc này xin cho Nguyễn Hoằng cùng đi với tôi mới được. Bởi vì trước đây khi ở Gia Định tôi có quen bốn, năm quan Tây chống lại việc lập công của nguyên soái. Những người này muốn hợp với tôi gây trở ngại bên trong. Nay nếu tôi gặp họ cũng có thể đem vấn đề quan trọng báo cáo cho họ biết, nhờ họ viết thư gửi cho các đại học sĩ ở Tây triều xin dư luận ủng hộ, cương quyết không can thiệp vào nước ta. Hơn nữa tôi rất am tường việc này, tôi sẽ có lý lẽ xác đáng thương lượng với họ đúng với kế hoạch của mình. Đồng thời cũng nói với họ rằng nếu họ gây trở ngại được đối với các Tây soái, ngày sau Nam triều cũng sẽ có gì đền đáp họ. Mặc dầu họ chẳng trông đợi gì ở chuyện đó, nhưng họ được hài lòng là làm cho nguyên soái hỏng mất ý đồ, thế họ cũng sung sướng lắm rồi. Nếu Triều đình dùng kế này, xin sớm gọi Nguyễn Hoằng về kinh gấp để cùng tôi gấp rút đi trước. Xin chớ nói cho giám mục biết rằng tôi và Nguyễn Hoằng đang thực hiện một công việc riêng như vậy. Giám mục sẽ sợ nếu sự việc bất thành để lộ dấu vết sẽ bị nguyên soái trách. Riêng tôi chỉ muốn giúp đỡ cho công việc đôi chút, dù bị trách cũng chẳng hề gì. Việc này rất nghịch chống Tây soái, xin hết sức giữ bí mật. Đó là kế sách tôi dự bị trong lòng như vậy, nên xin bẩm rõ trước. Sự tình ba tỉnh hết sức khẩn trương như vậy. Ngày trước tôi cớ bệnh trở về chỉ vì ý đó thôi. Nếu không sớm thực hiện kế bủa lưới bốn mặt như tôi đã nói trong bài Lục lợi từ để thực nghiệm lời nói của tôi thì không biết sự thế sẽ ra như thế nào. Còn như khi đi Tây, Triều đình nếu muốn mua các thứ máy móc, lựa thứ giá rẻ mà dùng được thì tôi sẽ làm tên mọi Ba Tư đi theo chủ là phái viên, như vậy cũng nhất cử lưỡng tiện. Một lần nữa xin trong lúc thương nghị bàn bạc cùng giám mục, nhất thiết chớ cho các dạo đồ cùng đến dự nghe, sợ có những trở ngại khác. Nay kính bẩm. ____________________________________ *. Nguyên văn chữ Hán: Hv 634/4 tờ 14-20. Bản văn chỉ ghi Tự Đức năm thứ 19, nhưng chắc là được viết lúc Nguyễn Trường Tộ mới cùng giám mục tới Huế (17-8-1866). 1. Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, thì năm 1858. Giám mục Gauthier có đem theo vào Đà Nẵng “cụ Khang, cụ Điền (người An Phú), cụ Huấn (người Trung Hậu) khi ấy cả ba ông chưa chịu chức thầy cả”. Sau này chúng ta chỉ thấy Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều và Joannes Vị cùng đi Pháp với giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ (1867-1868). Còn Nguyễn Lâu thì có thấy nói tới trong chiếu hội sai đi tìm mỏ với Hồ Văn Long thay Nguyễn Trường Tộ.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #99 vào lúc: 13 Tháng Mười Hai, 2010, 09:13:08 PM » |
|
DI THẢO SỐ 18 Về việc học thực dụng* (23 tháng 7 năm Tự Đức 19, tức 1 tháng 9-1866). Nguyễn Trường Tộ kính bẩm. Tôi trộm thấy mấy lâu nay Triều đình lo gấp về việc tự cường, mở rộng đường ngôn luận, đặt ra đề mục mới, khiến cho trong nước, tài nghệ gì cũng không bỏ, một điều hay gì cũng không để sót. Dụng tâm đó của Triều đình chẳng những là cần yếu mà còn thiết thực nữa. Tuy nhiên ngoài việc khoa cử thường lệ chưa thấy có ngành nào khác hưởng ứng để đáp lại lòng mong muốn của Triều đình. Chính là vì việc bồi dưỡng nhân tài chưa được liệu trước. Tháng trước, tôi đã có một tập trình bày về “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”. Đó là những cái rất căn bản. Những điều phúc lợi trong nước đều do đó mà ra. Thực là một cái mấu chốt quan trọng của sự thăng trầm xưa nay, của sự thịnh suy giữa ta và người. Bản lĩnh học thuật của tôi là nắm cho được cái đó. Nay tôi xin đệ thêm một tập nói rõ về việc học tập bồi dưỡng nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh. Những điều tôi nói trong đây tựa hồ như bỏ cũ theo mới, tôn người hạ mình. Nhưng “Mắng Phật tức yêu Phật”, vậy xin thấu cho nỗi khổ tâm của tôi ở đây mà rộng lòng tha thứ. Trộm nghĩ, nhân nghĩa đạo đức là bản tính của con người, dù người dã man cũng không thể bỏ những tính đó mà giữ được nước, dù giặc cướp cũng không thể bỏ ngoài trí hiểu biết sáng suốt ấy mà khuất phục được đồng bọn. Thế nhưng bàn về nhân nghĩa thường thường thấy rằng người ta hay bị cái lợi làm cho trí não hôn mê, đó là vì không có tài nghệ để tự bồi dưỡng cái sở học. Cho nên mới thấy lợi quên nghĩa. Lòng ham muốn mà thắng thì bỏ mất đạo lý. Người xưa nói: “Kho lẫm đầy rồi mới biết lễ tiết. Cơm áo đủ rồi mới biết vinh nhục”. Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ nghĩa. Cho nên Mạnh Tử nói: Nhân là phải dựa vào của cải. Khổng Tử nói: Tín thì trước hết phải đủ ăn. Xét thâm ý ấy thì trước hết phải giàu có rồi mới nói đến giáo dục. Có tài nghệ mới thành công. Vì rằng có giỏi tài nghệ mới hiểu thấu lý lẽ của người và vật để bồi dưỡng cái căn bản đạo đức. Cho nên chính cái “thành chính tu tề” 1 chỉ thành tựu được sau khi đã cách vật trí tri 2 mà công phu cách trí ấy là do học tập. ______________________________________ *. Nguyên văn chữ Hán: Hv 189/1 tờ 108-111 Hv 634/1 tờ 171 - 190 Hv 135 tờ 55- 74 N.P 122 trang 45-50 Về niên hiệu, thì Hv 634/1 chỉ ghi “Tự Đức 19, trong lúc Hv 189/1 ghi rõ hơn: 23 tháng 7 năm Tự Đức 19. Còn Hv 135 và N.P 122 ghi “Tháng 9 năm Tự Đức 24”. Theo chúng tôi, bản văn này được viết ngày 23 tháng 7 năm Tự Đức 19 (Tức 1-9-1866) như vậy Hv 189/1 ghi nhận là phù hợp với thực tế. Bởi vì ở đầu bài có nói: “Tháng trước (tiền nguyệt) tôi đã có một tập về Ngôi vua là quý”, và bài “ Ngôi vua là quý” đề tháng 4 năm Tự Đức 19. Bản Hv 135 và Nam Phong 122 có thể đã được chép từ một bản được sao lại tháng 9 năm Tự Đức 24. Ở đầu bài này, thay vì nói “tháng trước” (tiền nguyệt), thì đã nói “ngày trước” (tiền nhật). 1. “Thành chính tu tề”: thành: thành ý, ý phải thành thực; chính: chính tâm, lòng phải ngay thẳng; tu: tu thân, sửa mình cho tốt; tề: tề gia, sắp xếp việc nhà cho tốt. 2. Cách vật trí tri: Cũng nói là cách trí, tức là nghiên cứu suy cho đến cùng, hiểu thấu mọi lý lẽ của sự vật.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
|