chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 12:11:08 AM » |
|
6. KẾT QUẢ CHUYẾN ĐI PHÁP
Ngày 29-2-1868, Nguyễn Trường Tộ và phái đoàn Giám mục Gauthier về tới Huế. Trong một bức thư gởi về Pháp cho Hội Truyền bá Đức tin đề ngày 31-1-1868, Giám mục Gauthier viết:
“Tôi hân hạnh báo tin cho các bạn biết là dự án thiết lập một trường học ở Huế, để dạy các khoa học, tiến triển tốt đẹp. Mấy ngày sau khi chúng tôi tới kinh đô vương quốc An Nam, ngày 29-2, nhà vua hỏi về chương trình của chúng tôi cũng như danh sách liệt kê các dụng cụ và máy móc đem về cho trường học. Trước hết nhà vua thích thú xem xét các thứ mà chúng tôi mua ở Pháp cho Triều đình; sau đó nhà vua muốn xem tận mắt các thứ mà Bộ Hàng hải tặng. Đồng thời nhà vua cũng quan tâm tới lương bổng của các giáo sư. Lương bổng thì cũng khiêm tốn thôi, nhưng tạm đủ. Sau hết nhà vua sẵn sàng chấp thuận cho phép Giám mục Sohier xây trường trên mảnh đất mà giám mục đề nghị, nằm giữa nhà thờ và tòa giám mục...
“Về phần tôi và những người đi theo tôi, chúng tôi chỉ có thể ca ngợi cách xử sự của nhà vua. Nhiều lần nhà vua hỏi thăm về sức khỏe của chúng tôi; nhà vua đã gởi cho chúng tôi các quà tặng và huy chương cao cấp cho các tân giáo sư”1.
Theo một tờ tấu của Viện Cơ mật, ngày 4-3-1868, thì đề nghị tặng thưởng như sau:
* Cho Giám mục Gauthier được:
- Một tấm “Ngũ phúc kim tiền”, nặng 5 đồng cân (có tua).
- Một tấm “ngân tiền” (hạng Song long: đại, tiểu, mỗi thứ một tấm; hạng ngũ phúc, tam thọ, mỗi thứ một tấm), cộng lại nặng 3 lượng, 5 đồng cân, 5 phân.
- Một số đoạn bằng 5 loại tơ màu đen để may áo dài chật tay (có một đoạn lụa bằng màu lục để lót tay).
- Một xấp lương sa “Bửu lam nam hoa”.
- Một xấp sa có vân “Nam tố tuyết bạch”.
- Một xấp lụa “Tuyết bạch”.
* Nguyễn Trường Tộ được:
- Một tấm “Tứ mỹ kim tiền” nặng 4 đồng cân (có tua).
- Năm tấm “Ngân tiền” (Hạng sứ dân: Đại, trung, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng Ngũ phúc, tam thọ, mỗi thứ một tấm). Cộng lại một lượng, 5 đồng cân, 5 phân.
- Một xấp lụa lương sa “Bửu lam nam hoa”.
- Một cuộn tơ lông màu lam để may áo dài chật tay (có một đoạn lụa màu xanh để lót trong).
- Một xấp lương sa “Bửu lam nam tố”.
- Một xấp trừu “Tuyết bạch nam hoa”.
- Một xấp lụa “Tuyết bạch”.
* Nguyễn Điều, Nguyễn Hoằng, Vị được mỗi người:
- “Nhị thắng kim tiền”, mỗi người một tấm, nặng hai đồng cân (có tua).
- “Ngân tiền” mỗi người bốn tấm (Hạng sứ dân: đại, tiểu mỗi thứ một tấm; hạng ngũ phúc, hạng tam thọ mỗi thứ một tấm) mỗi phần công lại một lượng, ba đồng cân, năm phân.
- “Nam tố lương sa” màu đen, mỗi người một xấp.
- Tơ lông màu lam (Châu phê: hoặc màu đen huyền cũng được) mỗi người một đoạn (làm một cái áo tay chật, có một đoạn lụa xanh lót trong).
- Lụa “Bạch tuyết” mỗi người một xấp.
- Một xấp vải dày mịn “Bạch tuyết” hạng nhì (chia làm ba mỗi người một đoạn).
* Hai linh mục và giáo sĩ (người Pháp):
- “Tam thọ kim tiền” mỗi người một tấm (Châu phê: Cấp cho Ca xanh ba tấm ngân tiền này; cấp cho ba người ngân tiền hạng sứ dân: đại trung, tiểu mỗi thứ một tấm), mỗi tấm nặng ba đồng cân (có tua).
- “Long vân ngân tiền” hạng nhỏ, mỗi tấm nặng một đồng cân, cấp cho bốn người, mỗi người một tấm. ____________________________________ 1. Tạp chí Missions Catholiques 1868 trang 59-60.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 12:13:40 AM » |
|
7. VỀ DỰ ÁN MỞ TRƯỜNG
Các sách và dụng cụ mà Giám mục Gauthier đem về, được kê khai trong một danh sách đệ nạp1, thì cũng chỉ dùng để mở trường dạy học mà thôi. Giám mục cũng đem về hai linh mục, một giáo sĩ và một người thợ máy, tất cả đều là người Pháp.
Theo một tờ phúc trình của Giám mục Gauthier ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức 21 (23-2-1868 ):
- “Linh mục Thông, (tức Montrouzies)2 biết phép toán, bản đồ các nước thiên hạ, in bóng (quang học), điện khí, phân ngũ kim; biết nói có thứ đất thứ đá ấy thì có những giống chi”. Nhưng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris3, thì linh mục Montrouzies trước khi gia nhập Hội Truyền giáo Paris ngày 1-5-1867, đã đậu cử nhân văn chương.
- “Linh mục Đồng (tức Renauld) biết phép toán, thiên văn, đo độ số mặt trời mà họa đồ bản, đo thiên xích cho được đi biển, biết phép cầu cao cầu viễn, biết đo đất cho biết nơi nào cao nơi nào thấp, biết bản đồ các nước thiên hạ, biết dùng truyền tin thẳng, biết làm thu lôi trụ”4. Nhưng cũng theo ký sự của Hội Truyền giáo Paris, thì sau khi học xong chủng viện, linh mục Renauld gia nhập Hội Truyền giáo Paris 14-10-1866 và theo học một khóa đặc biệt về kiến trúc và họa đồ một năm trước lúc lên đường sang Việt Nam.
- “Giáo sĩ (tức bác sĩ Hemaiz5 không phải là linh mục hay tu sĩ mà chỉ là một nhân sĩ tôn giáo nên gọi là giáo sĩ, như Nguyễn Trường Tộ cũng được gọi là giáo sĩ), thì không dạy học trò được vì nặng tai, nhưng cũng giúp linh mục Thông mà phân tích các tính ngũ kim ngũ hành. Lại biết làm thuốc”. Nhưng tới Việt Nam chưa được mấy ngày, “giáo sĩ” này do bệnh cũ tái phát đã xin về Pháp trở lại”6.
- Còn Ca xanh (nguyên tên là Ca sa nhi) là một người thợ máy, trước đã giúp việc tàu Thuận Thiệp, có lẽ do giám mục gặp ở Sài Gòn đem về giới thiệu với Triều đình, nhưng Ca xanh đòi lương quá cao (320 đồng/tháng, tính ra tiền là một ngàn, bảy trăm sáu chục quan) và đòi hỏi nhiều điều kiện, nên không dùng7.
Triều đình dự tính lấy sứ quán làm cơ sở của trường học, nhưng Giám mục Gauthier và Giám mục Sohier cho rằng sứ quán quá ẩm thấp, không bảo quản được dụng cụ máy móc và cũng không tiện cho việc học tập nên đề nghị xây dựng cơ sở mới trên một khu đất rộng chừng hai mẫu ở xã Vạn Xuân, nằm giữa nhà thờ Kim Long và Tòa Giám mục Huế8. Theo như thư của Giám mục Gauthier viết ngày 31-3-1868, thì vua Tự Đức đã chấp thuận dự án này. ____________________________________ 1. Xem phụ lục VI, 10. 2÷4. Mémorial de la Société des Missions Étrangères de Paris, mục: MONTROUZIES và RENAULD. 5. Xem thư của Giám mục Gauthier 30/11/1870 Annales de la Propagation de la Foi tập 43 trang 242 (chú thích). 6. Xem tờ trình của Giám mục Gauthier 25/3/1868 (Phụ lục VI. 11). 7. Xem phụ lục VI, 7. 8. Xem tờ trình của Giám mục Gauthier và Sohier, Phụ lục VI, 9.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 12:18:01 AM » |
|
8. HOẠT ĐỘNG CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Việc mở trường, như được chuẩn bị trên đây, thực ra còn rất là khiêm tốn: Các giáo sư cũng chỉ mới hai, ba người và cũng không có ai là thực chuyên môn kinh tế, khoa học, kỹ thuật; sách thì cũng chỉ mấy quyển và cũng còn phải dịch ra tiếng Việt Nam, tiếng Hán cho người mình tiếp thu; cơ sở vật chất thì coi như chưa có.
Nguyễn Trường Tộ cũng thấy mặt hạn chế này của việc mở trường. Tuy nhiên ông vẫn tán thành, vẫn ủng hộ và đem hết sức mình để giúp đỡ. Trong văn bản đầu tiên, khi về tới Huế, đề ngày 12 tháng 12 năm Tự Đức 21 (5-3-1868 ), ông nói:
“Còn như các khoản học tập, như đã nói trong tờ bẩm của giám mục, chẳng qua mới mở bước đầu, để khiến cho người nước ta sinh lòng ham muốn, cầu tiến dần vào thực dụng, mở dần con đường từ nhỏ đến lớn về sau, làm kế ném gạch ra để được ngọc mà thôi (...) Nếu học sinh gia tâm học tập, thì cũng phải một số năm mới biết được như chúng tôi ngày nay. Bây giờ nếu giáo sư mở lớp giảng dạy mà không có chúng tôi thay giáo sư giảng lại cho học sinh những chỗ khúc mắc chưa hiểu, thì cũng khó bề tiến ích”1.
Điều mà Nguyễn Trường Tộ thấy cấp bách hơn cả, có thể làm để có lợi ngay hơn cả, nhất là sau chuyến đi vừa rồi, là tìm cách khai thác các tài nguyên của quốc gia, để làm giàu cho dân cho nước. Về điểm này, thì chuyến đi lần này không đem lại được gì cụ thể cả. Vì thế, ông xin đi lần nữa, cùng với một phái viên và Nguyễn Hoằng làm thông ngôn, để tìm người, thuê thợ; nếu không tìm được người, không thuê được thợ, thì mình mua máy móc rồi tự làm lấy...
Nhưng Triều đình vua Tự Đức lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam kỳ đã mất vào tay Pháp. Sau những cuộc thương thuyết không thành công giữa Trần Tiễn Thành và Lagrandière tại Sài Gòn cuối tháng 1-1868, Triều đình vua Tự Đức nhất định cử một phái bộ sang Pháp để điều đình với chính phủ Pháp.
Nguyễn Trường Tộ sau khi đi Pháp về, trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4-1868, đã gởi cho Triều đình, ít nhất là 9 văn bản:
Di thảo số 28 (Đầu tháng 3-1868 )
Di thảo số 29 (5-3-1868 )
Di thảo số 30 (9-3-1868 )
Di thảo số 31 (12-3-1868 )
Di thảo số 32 (12-3-1868 )
Di thảo số 33 (13-3-1868 )
Di thảo số 34 (15-3-1868 )
Di thảo số 35 (15-3-1868 )
Di thảo số 36 (7-4-1868 )
Ngoài văn bản số 28, là văn bản đầu tiên, sau khi về tới Huế, còn nói về việc mở trường và phát triển đất nước, hầu hết các văn bản khác đều xoay chung quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp. Quan điểm, trước sau như một, của Nguyễn Trường Tộ là phải tự lực tự cường để lấy lại phần đất đã mất, chứ không thể van xin nài nỉ. Nhưng có thể nói là cho tới 12-3-1868, Nguyễn Trường Tộ tỏ ra sẵn sàng đi theo sứ bộ và đã có những kiến nghị rất cụ thể và chi tiết để chuẩn bị cho sứ bộ lần này.
Khoảng giữa tháng 3-1868, Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Hoằng được cấp phát ngựa và chi phí về Nghệ Tĩnh thăm mẹ già trước lúc lên đường đi theo sứ bộ2.
Sau khi về thăm quê, trở lại Huế, Nguyễn Trường Tộ đổi ý, kiến nghị với Triều đình là không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đình (Di thảo số 35) và chỉ nên gởi sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết (Di thảo số 36).
Việc đi Pháp được đình hoãn không thời hạn. Ngày 18 tháng 4-1868, Bộ Lễ lại cấp bằng cho Nguyễn Trường Tộ trở về Nghệ An3.
Trước đó, ngày 7-4-1868, Giám mục Gauthier, khi thấy việc mở trường không được nói tới, cũng đã lên đường trở về Xã Đoài4. ____________________________________ 1. Di thảo số 29. 2. Ngày 19-2 năm Tự Đức 21 (tức 12-3-1868 ) Bộ Lễ lập bằng cấp như sau: “Nay căn cứ theo lời bẩm của giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ và thông ngôn Nguyễn Hoằng nói thì bọn họ phụng phải đi Pháp nhưng đều còn mẹ già xin cấp cho con ngựa và mỗi người một cái cáng, ngày mai về quê thăm một tuần nhật xong sẽ trở lại kinh đô hầu phái bộ. Bộ đã tâu và đã được phê chuẩn. Lại được châu phê: “ban cho mỗi người 10 lạng bạc để phụng dưỡng. Khâm thử.” Vậy khi được cấp bằng này và tiền của Bộ Ty đệ cấp mỗi người 10 lạng thì phải tuân phụng chiếu nhận. Lần này về thăm chỉ một tuần nhật vô kinh không được kéo dài. Nay lập bằng cấp trên đây cho Nguyễn Trường Tộ để chấp chiếu”. (Xem phụ lục II). 3. “Bộ Lễ làm bằng cấp về việc như sau: Nay giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ về kinh bệnh cũ tái phát. Khâm phụng cấp phí và ngựa trạm cho về Nghệ An điều trị. Cùng với bằng cấp này cho nhận lệ phí 5 lạng bạc về quê dưỡng bệnh. Nay lập bằng cấp cho Nguyễn Trường Tộ chấp chiếu. Ngày 26 tháng 3 năm Tự Đức 21”. (Xem phụ lục II) 4. Thư Giám mục Gauthier gởi cho Đô đốc Ohier ngày 20-6-1868. Xem Kho lưu trữ Bộ Pháp quốc hải ngoại Indochine A 20 (9) Carton 4.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 12:19:32 AM » |
|
9. TẠI SAO VIỆC MỞ TRƯỜNG Ở HUẾ BỊ BỎ DỞ?
Theo các thư từ của Giám mục Gauthier viết về Pháp, thì sở dĩ việc thực hiện dự án mở trường tại Huế không thành là do sự cản trở của Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình là hai vị quan có thế lực trong Triều đình. Trong một bức thư gởi Hội Truyền giáo Paris, đề ngày 31-3-1868, Giám mục Gauthier viết: “Công việc sẽ tiến triển nhanh hơn nếu không có việc cử sứ bộ đi Pháp và những sự chậm chạp của xứ này... Trong các quan thượng thư, có hai vị cựu trào tìm cách cản trở quyết tâm của nhà vua”1.
Nhưng có lẽ không phải chỉ có Nguyễn Tri Phương hay Võ Trọng Bình, mà có cả một luồng dư luận khá rộng rãi, trong Triều đình cũng như ở các tỉnh, tỏ ra dè dặt, lo sợ trước ảnh hưởng của các giáo sĩ người Pháp: Một trường đào tạo nhân tài đầu tiên hoàn toàn do giáo sư người Pháp, đặt ngay bên cạnh Tòa Giám mục, dưới sự giám sát của Giám mục.
Chúng ta biết là trong những ngày từ tháng 4-1868, có một sự phản ứng rất dữ dội của các nho sĩ ở khắp nơi đối với người công giáo: Nhiều nhà thờ bị đốt phá - Giám mục Gauthier rời Huế đầu tháng 4-1868, nhưng cũng phải dừng lại ở Đan Sa, bên kia bờ sông Gianh, không về Nghệ Tĩnh được.
Linh mục Montrouzies, một trong những giáo sư do Giám mục Gauthier đem về để thiết lập trường Kỹ thuật tại Huế đã viết cho Hội Truyền Bá Đức Tin trong một thư đề ngày 16-6-1868 như sau:
“Ở đây các biến cố xảy ra và diễn tiến một cách hết sức mau lẹ. (Giám mục Charbonnier - ở Bình Định - bị bắt; 30 làng ở Nam Định bị đốt phá). Chắc các bạn đã biết về những lời vu khống xấu xa và buồn cười, truyền đi khắp nước, chống lại người Công giáo và các thừa sai. Người ta nói khắp nơi rằng người Công giáo là những kẻ đi bỏ thuốc độc; Giám mục Sohier đã đem từ Pháp sang 400 cân độc dược để giết các quan lại và các nho sĩ... Người ta còn viết và gởi lên nhà vua một bức thư nặc danh, trong đó người ta tố cáo Giám mục Sohier muốn lên ngôi. Tự Đức chế diễu bức thư đó và chế diễu cả ông hoàng dâng lên vua bức thư đó. Nhưng nhà vua cũng càng ngày càng nghi ngại đối với người Công giáo. Từ khắp nơi người ta gây áp lực để nhà vua ra lệnh cấm đạo một lần nữa. Nhà vua thì tốt, nhưng nhu nhược và bị bao vây bởi những kẻ xấu. Họ dọa giết nhà vua, nếu nhà vua không nhượng bộ họ. Trong lúc chờ đợi một cuộc bách hại công khai, người ta cướp của, đốt nhà, bắt giam và hành hạ các giáo hữu khốn khổ của chúng ta.
“Các kẻ thù của chúng ta lại đang chĩa mũi dùi vào Kim Long, nơi ở của Giám mục Sohier. Linh mục Renauld và tôi cũng đến ở đó từ khi Giám mục Gauthier trở về Bắc kỳ. Các nho sĩ dự định tấn công nơi ở chúng tôi và giết chết tất cả những ai ở trong đó. Chính một sứ giả của nhà vua tới nói cho giám mục biết như vậy. Trong hai ngày và một đêm, lính gác các ngả đường dẫn tới Tòa Giám mục. Mấy ngày sau, nhiều người hiếu kỳ qua lại rất đông trước nhà thờ và trước Tòa Giám mục, tưởng là các cơ sở đó đã bị phá hủy. Nhưng cám ơn Chúa, nhà thờ và Tòa Giám mục vẫn đứng vững và chúng tôi vẫn an toàn.
“Sau những ngày náo động đó, bỗng nhiên yên tĩnh đã trở lại: Đe dọa, vu khống, bắt bớ, tất cả đều ngưng. Chỉ vì một tàu chiến Pháp đến Huế đem đến cho nhà vua huy chương do Triển lãm cấp và một vài tặng vật...”2. ____________________________________ 1. Kho lưu trữ MEP. Tonkin méridional. Trong một thư gởi Hội Truyền giáo Paris 30-11-1870, Giám mục Gauthier lại viết: “Chính phủ đã nói với một trong những linh mục của tôi là tôi sẽ góp ích cho xứ sở này, nếu tôi tìm được người có khả năng khai thác mỏ than và thiết lập các lò luyện thép như ở châu Âu. Điều mà tôi đã làm năm 1867, nhưng những người tôi đem từ Pháp về theo yêu cầu của nhà vua đã bị Võ Trọng Bình lúc đó đuổi về...” Annales de la Propngation de la Foi, tập 43, trang 242-243. 2. Missions Catholiques 1868.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 10:54:28 PM » |
|
IV. NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI (20-4-1868 – 22-11-1871) Nguyễn Trường Tộ về Nghệ An lần này, ở có tới hơn ba năm rồi từ trần. 1. XÂY CẤT CƠ SỞ NHÀ CHUNG XÃ ĐOÀI Chính trong khoảng thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã giúp xây dựng các cơ sở của Nhà Chung Xã Đoài. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ viết: “Khi nghe lắng sáp rồi, thì Đức cha Hậu lại đem ông Tộ và các cụ về Nhà Chung Xã Đoài, ngoài dân sự, tan tành tả tơi, chẳng còn gì nữa, thì ông Tộ ra mẫu và coi sóc làm nhà phòng cho Đức cha Hậu ở (...) Lại làm nhà hai tầng cho Cố giữ việc ở, và làm nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập, gọi là nhà Tây, cho học trò Latinh ở và học, hãy còn đến rày, cùng làm Nhà thờ Đức Bà riêng cho học trò, theo mẫu nhà thờ Đức Bà hiện ra ở thành Lộ Đức, đẹp lắm và ở ngoài xây tường cài hoa lộng, giống các sắc hoa Tây, Nam rực rỡ xanh tươi vui mắt lắm, rầy hư rồi...”1. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, trong đoạn trích dẫn trên đây, có chỗ không chính xác. Như nói: “ Khi nghe lắng sáp” tức sau khi được tha cấm đạo, vào khoảng năm 1862-1863, “ Đức cha Hậu lại đem ông Tộ... về Nhà Chung Xã Đoài” là không đúng. Chúng ta biết chắc là Giám mục Gauthier tháng 6 năm 1863 đã về Huế, để tìm cách về Xã Đoài, nhưng chỉ tới được ở bên kia bờ sông Gianh, ở giáp ranh giới phía Nam của Giáo phận Vinh và ở lại đó cho tới đầu tháng 5 năm 1866 mới cùng Nguyễn Trường Tộ về tới Nghệ An. Hơn nữa, lần này Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier chỉ ở lại Nghệ An khoảng ba tháng, rồi phải trở về Huế để chuẩn bị đi Pháp, nên Nguyễn Trường Tộ có lẽ không đủ thời gian để làm bất cứ một công việc gì, ngoài việc giúp Hoàng Tá Viêm đào Thiết Cảng như chúng ta đã thấy trên đây. Nhà Chung Xã Đoài, tức cơ sở của giáo phận Vinh, cho tới đầu năm 1868, còn ở tại Tràng Nứa hay Bùi Ngõa thuộc huyện Hưng Nguyên ngày nay, bên phía Tây bờ Kênh Gai, đối diện với Xã Đoài ở phía Đông Kênh Gai, thuộc huyện Nghi Lộc ngày nay. Theo phúc trình của Giám mục Retord ngày 23-7-1839, thì ở Nghệ An (cũ) có 7 xứ đạo lớn: mỗi xứ đạo bao gồm nhiều họ đạo nhỏ trong một hay nhiều huyện. Trong 7 xứ đạo này có một xứ đạo tên là Làng hay Xã (Pagus) Đoài với 4.974 giáo hữu. Làng Đoài hay Xã Đoài bao gồm các họ đạo trong huyện Hưng Nguyên. Trong phúc trình của Giám mục Gauthier năm 1852, thì không nói xứ đạo Xã Đoài mà nói xứ đạo Hưng Nguyên với 5.197 giáo hữu và ba linh mục 2. Năm 1868, sau khi làm xong sứ mạng mà Triều đình Huế giao phó là đi Pháp mua máy móc và thuê thầy thợ trở về, với hào quang của một người được huy chương, được tặng thưởng của Triều đình, Giám mục Gauthier đã không những đấu tranh quyết liệt với những quan lại và nho sĩ bách hại công giáo 3, mà còn tin tưởng ở tương lai, dám khởi công xây dựng những cơ sở nhà chung một cách kiên cố. Trước đây, trong thời kỳ đạo bị cấm, các cơ sở như nhà thờ, nhà ở của các giám mục, các thừa sai chỉ được xây dựng một cách lén lút, tạm bợ. Giám mục Gauthier đã đem cơ sở của nhà chung từ bên kia phía Tây bờ Kênh Gai thuộc huyện Hưng Nguyên, là nơi đông dân cư sang phía bên Đông bờ Kênh Gai thuộc huyện Chân Lộc, tức huyện Nghi Lộc ngày nay, ở vị trí của Xã Đoài hiện tại là vùng đất mới. Cái tên Làng Đoài hay Xã Đoài là tên của cơ sở nhà chung được đem từ bên Tràng Nứa, Bùi Ngõa, thuộc huyện Hưng Nguyên, sang bên này cho các cơ sở mới thuộc huyện Chân Lộc, ngày nay là Nghi Lộc 4. Theo Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ do Nguyễn Trường Cửu viết, thì Nguyễn Trường Tộ là người đứng ra điều khiển các công trình xây cất này. Giám mục Gauthier, trong một thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris, có nói tới các xây cất nhưng không nói đến tên người xây cất, tuy nhiên không thể có ai khác để điều khiển các công việc xây cất này ngoài Nguyễn Trường Tộ là người mà Giám mục Gauthier luôn luôn gọi là “Kiến trúc sư”. Giám mục Gauthier viết trong thư đề ngày 7-12-1869: “Để cho cộng đoàn chúng tôi và cơ sở của Giáo hội không bị đe dọa bởi một luồng gió bất ngờ nào hay bởi những kẻ phá hoại nào, tôi đã cho xây một nhà bằng gạch, lợp ngói, gồm có một phòng cho giám mục và hai phòng cho các thừa sai, với một phòng chứa đồ. Đây có thể nói là Tòa Giám mục. Người ta cũng đang xây một nhà nguyện để có thể giữ Mình Thánh Chúa một cách trang trọng và an toàn.
“Thấy phần đông học sinh của chúng tôi hầu như luôn luôn bị bệnh hoạn, tôi cũng đã cho xây một nhà tầng, hy vọng là sức khỏe của học sinh không còn là cản trở như vẫn xảy ra cho tới nay cho những sự học tập nghiêm túc và liên tục, và cũng là làm cho người ta tin tưởng hơn ở tương lai tức là tin tưởng ở Chúa quan phòng: Chúng ta làm lên tinh thần cho những người giáo hữu khốn khổ đã bị ngã lòng mỗi khi nghĩ rằng luôn luôn có một tai họa sắp xảy đến (...).
“Chi phí xây dựng một nhà trường, một nhà nguyện và một Tòa Giám mục là 19.545 quan Pháp...”5. Trong số các công trình do Nguyễn Trường Tộ xây cất ở Xã Đoài, nay chỉ còn “ nhà tràng Latinh ba tầng, hình chữ thập gọi là nhà Tây”, chứ nhà giám mục và các nhà phụ thuộc bị bom Mỹ đánh sập; nhà Cố giữ việc, toàn bằng gỗ, bị mối mọt, nên đã được tháo gỡ. Nhà tràng Latinh, tức tiểu chủng viện, lúc bấy giờ được xây cất trong khu vực Nhà Chung, hình như cho dễ bảo vệ, sợ bị đánh phá. Sau này, khi Pháp đã chiếm trọn Bắc kỳ và Trung kỳ, thì Tiểu Chủng viện được xây cách khu Tòa Giám mục khoảng hai cây số... Ngôi nhà ba tầng hình chữ thập gọi là nhà Tây, có thể là vì xây cất theo lối Tây, có được sửa chữa ít nhiều, nhưng toàn bộ kết cấu sườn, mái còn nguyên kích thước, kiểu mẫu của người thiết kế. Riêng ngôi nhà nguyện được Nguyễn Trường Tộ xây có thế khang trang, chứ không phải là đồ sộ, do kinh phí được cấp phát trong một hai năm không đủ cho ngần ấy xây cất Nhà thờ Chính tòa đồ sộ ở Xã Đoài được xây cất dưới thời Giám mục Croc (1877-1885). Lê Thước, trong “ Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử”, NAM PHONG số 102 có lẽ dựa trên truyền khẩu có nói rằng: “ Sau tiên sinh dời đến ở phía ngoài cổng trước nhà thờ Xóm Mới (Tân ấp)..., Năm 1863 (Tự Đức thứ 16) vì làng Xuân Mỹ (Xuân Mỹ thôn) đất xấu, nhiều khí độc khiến dân ở đây hao mòn, tiên sinh mới đi tìm một nơi đất tốt khác đưa dân chúng di cư đến ở. Nơi dân dời đến rộng khoảng 40 mẫu, bốn mặt bên ngoài có mở đường lớn, bên trong có nhiều đường nhỏ nối liền ngang dọc thẳng như bàn cờ...”. Chúng ta biết chắc chắn là Nguyễn Trường Tộ bỏ Nghệ An cuối năm 1858 và giữa năm 1866 mới lần đầu tiên trở về lại quê hương nhưng chỉ ở nhà khoảng ba tháng, nên có lẽ cũng chưa tính toán được gì. Do đó, việc Nguyễn Trường Tộ dời nhà tới ở trước Nhà chung Xã Đoài và việc Nguyễn Trường Tộ giúp thôn Xuân Mỹ dời dân có thể là vào khoảng 1868-1871. Theo những người hiểu chuyện ở xứ đạo Xuân Mỹ, thuộc xã Nghi Đồng, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh ngày nay, thì mẹ của Nguyễn Trường Tộ là người Xuân Mỹ, thuộc cánh họ Vũ là một dòng họ tương đối lớn ở đây. Trước kia dân Xuân Mỹ ở vùng dưới chân đồi thấp, đất ruộng, cách chỗ ở hiện nay khoảng 400 thước về phía Tây. Nơi ấy gần khe suối, tới mùa mưa lụt thì lầy lội, bẩn thỉu. Nguyễn Trường Tộ đã khuyên dân dời cư lên triền đồi (chỗ ở hiện nay). Ông vẽ đường, chia ô cho các hộ. Dấu vết của một số đường sá còn thấy ngày nay. __________________________________ 1. Xem phụ lục I. 2. Xem C.V.P. tlđd. Trang 367. 3. Giám mục Gauthier đã trực tiếp tới gặp các quan đầu tỉnh Nghệ An, gặp khâm sai đại thần, gởi thư cho Triều đình khiếu nại và đòi bồi thường cho các nạn nhân. Trong một thư gởi về Hội Truyền giáo ở Paris, Giám mục Croc viết: “Đức Giám mục Gauthier quyết tâm trực chiến với các nho sĩ, chắc chắn là trong tất cả các giám mục thì ngài là người mà Triều đình sợ hơn cả và đánh giá cao hơn cả” (Kho lưu trữ M. E. P). 4. Trong một bị vong lục gởi cho Triều đình ngày 10-12-1874, Giám mục Gauthier có nói đến huyện Chân Lộc là nơi có trụ sở chính của Giáo hội chúng tôi. (Kho lưu trữ Bộ Pháp quốc hải ngoại Indochine A 30 (25) Carton 13) 5. Trong một thư đề ngày 4-1-1870, giám mục Gauthier nói: “Người ta đã xây một chủng viện ba tầng, kể cả tầng trệt” (Kho lưu trữ M.E.P Tonkin Méridional). Theo một bức thư của Giám mục Gauthier ngày 30-11-1870, thì trường học với hai tầng lầu và một tầng trệt đã được đưa vào sử dụng cho học sinh và làm cho mọi người phải tấm tắc khen ngợi “Annales de la Propagation de la Foi” tập 43 trang 245.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 11:00:04 PM » |
|
2. NHỮNG LIÊN LẠC VỚI TRIỀU ĐÌNH HUẾ
Trong khoảng thời gian từ 18-4-1868, là ngày được cấp bằng để về quê, cho tới 22-11-1871, là ngày từ trần, Nguyễn Trường Tộ đã gởi lên Triều đình Huế gần 20 văn bản, trong số đó có ba bản hiện chưa tìm thấy ở đâu cả1.
- Tháng 8, năm Tự Đức 21 về việc bày trừ giặc bể (Di thảo số 38 ).
- Ngày 12 tháng 12, năm Tự Đức 23, về kế hoạch nội công ngoại kích để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ (Di thảo số 39).
- Ngày 20 tháng 12, năm Tự Đức 23, bổ sung kế hoạch sai sứ đi Tây và đánh úp Gia Định (Di thảo số 40).
- Ngày 10 tháng 2, năm Tự Đức 24, cho Pháp thông thương để đổi lấy 6 tỉnh (Di thảo số 41).
- Ngày 16 tháng 2, năm Tự Đức 24, về việc giao tiếp với người nước ngoài (Di thảo số 42).
- Ngày 18 tháng 2, năm Tự đức 24, kế hoạch thương nghị với Pháp và vận động giúp đỡ của các nước khác (Di thảo số 43).
- Ngày 21 tháng 2, năm Tự Đức 24, kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh (Di thảo số 44).
- Ngày 25 tháng 2, năm Tự Đức 24, về việc gởi học sinh sang Singapore học sinh ngữ (Di thảo số 46).
- Ngày 10 tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc dịch các văn bản ngoại giao (Di thảo số 46).
- Ngày 10 tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc nhờ Giám mục Hòa giúp lấy lại 6 tỉnh (Di thảo số 47).
- 22 tháng 5, năm Tự Đức 24, về tình hình chính trị nước Pháp (Di thảo số 48 ).
- Cuối tháng 3, năm Tự Đức 24, về việc cần nắm tình hình chính trị ở Pháp (Di thảo số 49).
- Ngày 2 tháng 5, năm Tự Đức 24, về tu chỉnh võ bị (Di thảo số 50).
- Cuối tháng 4 năm Tự Đức 24, về việc cần hiểu rõ tình hình chính trị của Pháp (Di thảo số 51).
- Đầu tháng 8, năm Tự Đức 24, về việc cần canh tân, quảng giao để giữ nước (Di thảo số 52).
- Ngày 20 tháng 8, năm Tự Đức 24, về nông chính (Di thảo số 53).
- Tháng 9, năm Tự Đức 24, về việc cần phải gấp rút tiến hành các kế hoạch (Di thảo số 54).
- Tháng 9, năm Tự Đức 24, nên giao thiệp chứ không nên nghi ngờ (Di thảo số 55).
Chuyến đi Pháp của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier không đưa đến kết quả cụ thể nào cả: Các sách vở và máy móc, tốn mấy chục ngàn quan Pháp, vẫn nằm trong kho.
Tuy nhiên, vua Tự Đức, vẫn có một cảm tình và quan tâm nào đó đối với Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier.
Chúng ta thấy là nhà vua vẫn ra lệnh điều tra và xử phạt các quan lại và nho sĩ bách hại người công giáo.
Nguyễn Hoằng, người đi theo Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tộ đi Pháp năm 1867, được trao chức linh mục ngày 2 tháng 8 năm 1868, rồi được cử vào Huế dạy tiếng Pháp, theo yêu cầu của nhà vua...2.
Tháng 1 năm Tự Đức 23 (tức tháng 2 năm 1870), nhà vua truyền hỏi các giới chức Nghệ An “Sao không nhân lúc bình thường hỏi bọn Tộ, Điều xem đạo của chúng có chỗ nào hay mà cố theo, có học thức mà cũng mê là vì sao vậy? Và sao không nhân lúc nhàn rỗi hỏi xem để tìm hiểu vấn đề Nam Kỳ như thế nào?”3.
Trong một bức thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris, đề ngày 30-11-1870, giám mục Gauthier viết như sau:
“Quan Tổng đốc của chúng tôi đã mời tôi đến nhận một cách long trọng tại tòa tỉnh, năm đồng Kim khánh mà nhà vua sai ông trao tặng tôi vì đã phục vụ Triều đình và vì những gì tôi đã làm để giữ mối hòa hảo giữa lương và giáo. Tôi đã viết thư cám ơn nhà vua và nói là tôi sẽ dâng một thánh lễ cầu an cho ngọc thể.
“Triều đình cũng đã nói với.một linh mục của tôi là tôi sẽ giúp ích nhiều cho Nhà nước, nếu tôi tìm được người giúp khai thác các mỏ than và thiết lập các xưởng máy luyện kim như ở châu Âu. Điều mà tôi đã làm năm 1867, nhưng Võ Trọng Bình, lúc đó ở Triều đình, đã cho đuổi những người mà theo yêu cầu của nhà vua tôi đã đem từ Pháp sang...”4.
Về phần Nguyễn Trường Tộ, thì không biết là trong khoảng thời gian, từ khi trở về Nghệ An cho tới lúc từ trần, có giúp gì được cụ thể cho Triều đình và còn lui tới Huế nhiều hay ít. Nhưng có điều chắc chắn là Nguyễn Trường Tộ luôn luôn canh cánh bên lòng hoài bão muốn làm một cái gì đó để giúp nước. __________________________________ 1. Trong văn bản số 50 ngày 2-5 năm Tự Đức 24 có nói là: “Trước đây, khoảng năm Tự Đức 22 tôi có bẩm một tập về TÁI TU CHÍNH VÕ BỊ...”, nhưng bản này không thấy ở đâu cả. - Trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành, ngày 9-11 năm Tự Đức 23 (Xem phụ lục VII, 4) có nó: “Ngày 6 tháng trước có tiếp trát... chuyển giao Cơ Mật viện một phong thư MẬT BẨM CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ... Nội dung xin đề nghị lập lãnh sự đại sứ tại kinh đô nước họ...” Văn bản này cũng không tìm thấy ở đâu cả. - Trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành, ngày 30 tháng 11 năm Tự Đức 23, (Xem phụ lục VII 5) có nói: “Ngày 9 tháng này có tiếp một phong thư mật bẩm của Nguyễn Trường Tộ” về việc thám thính để đánh úp ở Gia Định và sai sứ đi Tây. Nhưng bản này cũng không tìm thấy ở đâu cả. 2. Xem C.V.P sđd trang 313, trích tự thuật của Nguyễn Hoằng đăng trên tạp chí Sacerdos tháng 1-1936 trang 453-455 và tháng 2 trang 498-500. 3. Xem tấu của Cơ mật viện ngày 28-2 năm 1870 (Phụ lục VII, 2) và tấu của các quan chức tỉnh Nghệ An ngày 26-4-1870 (Phụ lục VII, 3). 4. Annales de la Propagation de la Foi tập 43 trang 242.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 11:04:08 PM » |
|
Sau khi gởi cho Triều đình hai văn bản với những đề nghị rất cụ thể về việc “tái tu võ bị” (năm 1869) và về việc “Tiễu trừ giặc bể” (tháng 9 năm 1868 ) mà không có hồi âm, Nguyễn Trường Tộ hình như im lặng đi một thời gian. Nhưng cuối năm 1870 đầu năm 1871, khi được tin là Pháp thất trận trong cuộc chiến tranh với Đức và vua Napoléon III đã bị truất phế (4-9-1870), Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi thư cho Triều đình đề nghị là nên lập lãnh sự ở Gia Định và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình (Tờ bẩm đầu tháng 10 năm Tự Đức 23) và xin được vào Gia Định tổ chức đánh úp thu hồi lại 6 tỉnh Nam Kỳ (đầu tháng 11 năm Tự đức 23).
Trần Tiễn Thành, khi nhận tờ bẩm thứ nhất, thì cho rằng: “Cái khoản này năm trước y cũng đã trình bày chưa tiện thực hành, nay lại đề cập, viện dẫn lý thế hiện tại và điển cố biện thuyết, chẳng qua chỉ là muốn tỏ ra có lòng vì mình mà thôi. Nhưng bác đi vì thời sự khó thực hành, đó là ý kiến đã được thương nghị cùng thần Nguyễn Tri Phương, thần Phạm Phú Thứ, tất cả đều đồng ý như vậy”1. Nhưng khi nhận được tờ bẩm thứ hai, Trần Tiễn Thành tâu rằng: “Thần thấy nước Pháp có cơ hội này thật là khó được mà dễ mất, tuy phái y đi có thành công được việc gì hay không còn chưa biết được, nhưng bỏ qua thì thật không yên lòng, cho nên không dám vì sự ngu dốt thiển cận của mình mà làm thinh không nói. Vậy dám có lời phúc tâu hầu thánh thượng trù định”. Vua Tự Đức châu phê trên tờ tấu của Trần Tiễn Thành rằng: “Truyền Cơ Mật viện, Thương Bạc, với khanh cùng nhau bàn luận kỹ nên phải làm như thế nào cho chu đáo, phúc tâu đầy đủ đừng để mất thời cơ. Nếu có đường lối nào hay hơn càng tốt”2. Ngày 28-12-1870 Viện Cơ mật tâu: “Bọn thần tuân phụng xét duyệt các khoản mật trần của Nguyễn Trường Tộ thấy y cũng có lòng với ta và chính lúc này là lúc có thể thừa cơ hội được. Ý kiến của bọn thần cũng đồng với các lý lẽ của thần Trần Tiễn Thành tâu xin. Nhưng xét vì đây là việc quân quốc trọng sự cần phải bàn thảo kín đáo kỹ lưỡng mới bảo đảm không nguy hiểm trở ngại sau này. Nay bọn thần chưa giáp mặt y bàn tính mà đã nội giao cho y qua các nước thám sát những việc cần phải làm, lỡ ra có chỗ nào chưa được chu đáo, sợ sẽ sinh trở ngại. Vậy xin cho Bộ Lễ lấy lý do phái đem người qua Tây học tập, khẩn tư cho tỉnh thần Nghệ An lập tức cấp ngựa, sức y lên kinh ngay để bọn thần ở Viện Cơ mật và Thương Bạc đối diện hỏi bọn y xem suy tính cơ nghi như thế nào cho được chu thỏa. Bọn thần sẽ suy nghĩ chín chắn đôi ba lần và phúc tâu đầy đủ. Vậy dám xin có lời tâu bày, đợi chỉ tuân hành”3.
Ngày 3 tháng 1 năm 1871, Tổng đốc Nghệ An, được lệnh hỏa tốc của Bộ Lễ, đã làm chiếu hội để Nguyễn Trường Tộ đi Huế, dĩ nhiên cũng nói là để đem học sinh đi du học4. Có lẽ chính vì vậy mà mọi người, kể cả Giám mục Gauthier và những người trong gia đình cũng như những người viết tiểu sử Nguyễn Trường Tộ sau này, đều nói là Nguyễn Trường Tộ được gọi về Huế lần này là để đem học sinh đi Pháp. Nhưng qua tờ tấu của Viện Cơ mật được trích dẫn trên đây, chúng ta thấy là mục đích của Nguyễn Trường Tộ về Huế là để bàn tính phương thức thực hiện kế hoạch quân sự và ngoại giao mà ông đã trình bày trong các văn bản gởi cho Triều đình cuối năm 1870.
Trong những ngày ở Huế, Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã gặp gỡ và trao đổi nhiều với các quan chức của Triều đình và ông cũng đã để lại nhiều bản văn với nội dung thôi thúc Triều đình mở rộng bang giao, canh tân đất nước. Ông đã đề xuất các kế hoạch một cách rất cụ thể. Như nếu gởi sứ bộ đi châu Âu, thì nên đến nước nào trước, nước nào sau; ở mỗi nước nên đặt những vấn đề gì; nếu cho người vào Nam kỳ, tổ chức phản gián, tổ chức đánh úp, thì Nguyễn Trường Tộ xin đứng ra làm trong những điều kiện và theo phương thức nào; nếu gởi người đi học, thì nên tới nước nào...
Nhưng Triều đình Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào: Sứ bộ không được cử đi; kế hoạch đánh úp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ không được thực hiện...
Sau mấy tháng ở Huế, có thể là không thấy còn có việc gì để làm hoặc có thể vì bệnh cũ tái phát, Nguyễn Trường Tộ đã trở về Nghệ An. Chúng ta không biết chắc Nguyễn Trường Tộ rời Huế từ ngày nào. Nhưng trong một văn bản viết từ Nghệ An, đầu tháng 8 năm Tự Đức 24, Nguyễn Trường Tộ nói rằng: “Đúng như hồi tháng 5, khi ở kinh tôi đã bẩm... Tôi hiện đang đau, chưa khỏi. Hiện còn ba bốn tập trình bày sự việc, xin đợi tháng 6 sẽ gởi lên” (Di thảo số 51).
Như thế là Nguyễn Trường Tộ còn viết thêm ba văn bản nữa, văn bản 55 đang dở dang... và từ trần ngày 22-11-1871. __________________________________ 1. Tấu của Trần Tiễn Thành (2-12-1870). Xem phụ lục VII, 4. 2. Tấu của Trần Tiễn Thành (23-12-1870). Xem phụ lục VII. 5. 3. Xem phụ lục VII, 6. 4. Tờ chiếu của Tống đốc An Tĩnh như sau: “Hôm nay vừa mới tiếp được tờ tư hỏa tốc của Bộ Lễ nói: Từ dịch quân ở kinh đô cần người thông dịch, xét nên phái người qua trước các nước phương Tây để học ngôn ngữ của họ. Xét giáo sĩ này là người mẫn cân, đã từng đi Tây quen thuộc phong tục các nước. Vậy hãy cấp ngựa trạm, sức gọi về kinh đô gấp hầu Bộ để sảa soạn dẫn học sinh qua Tây học tập. Đồng thời bảo sửa sang hành lý gấp vô tỉnh lãnh bằng để lên đường. Nhưng trước hết ngày nào có thể đi được phải biên giao cho người cầm trát này đem về phúc cho biết. Nay làm tờ sức hỏa tốc cho giáo sĩ Nguyễn Trường Tộ chiếu thi hành. Giờ Ngọ ngày 11 tháng 12 năm Tự Đức 23” (Xem N.P. số 102)
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2010, 11:07:28 PM » |
|
3. VỀ CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Nguyễn Trường Cửu, trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ chỉ nói ngắn gọn rằng: “Qua năm sau, Tự Đức 24 (1871), ngày 10 tháng 10, ông Tộ làm một câu thơ rằng: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận, tái hồi đầu thị bách niên cơ”1 đoạn thì qua đời. Thọ 41 tuổi”.
Lê Thước, có lẽ cũng chỉ dựa trên lời kể của Nguyễn Trường Cửu và những người trong gia đình, nói: “Bệnh của tiên sinh, có người bảo là ung thư ruột, có người bảo là chứng tụ máu: trong bụng có một cục gì nho nhỏ chạy qua chạy lại. Sau khi tiên sinh mất, các bạn bè đến khóc, có người hiểu tâm sự của tiên sinh nhất đã than rằng: “Học thức như thế, hoài bão như thế mà chẳng thi thố được điều gì, để rồi cuối cùng mang bệnh mà chết, thương thay!” Rồi người nhà thấy trên chăn đắp có dấu máu rướm, mở ra xem thì đó là cái cục trong bụng đã vỡ phun ra máu”2.
Đinh Văn Chấp, cũng là người Nghệ An, có lẽ có dịp gần gũi với gia đình Nguyễn Trường Tộ, thì nói: “Nguyễn Trường Tộ khi chết thổ ra một cục máu”3.
Riêng Giám mục Gauthier, trong một thư đề ngày 1-11-1871, viết:
“Người Giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867 và người ta gọi là Kiến trúc sư (...) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc”4.
Do đó chúng ta không biết chắc Nguyễn Trường Tộ chết vì nguyên nhân nào, nhưng theo nhiều chứng từ, thì có triệu chứng xuất huyết bao tử.
Đối với chúng ta ngày nay, Nguyễn Trường Tộ là một người yêu nước. Nhưng trước con mắt của những người đương thời, những người không hiểu được nỗi lòng của một con người thiết tha với dân với nước, được bộc lộ qua các văn bản gởi lên Triều đình Huế, - nhất là trước con mắt của nhân dân Nghệ Tĩnh, quê hương của phong trào “bình Tây sát Tả”, - Nguyễn Trường Tộ chỉ là một người công giáo đi lại gần gũi với các thừa sai Pháp, được coi như tay chân của thực dân cướp nước. Chúng ta biết là vào những năm 1862 - 1863, sau khi Triều đình vua Tự Đức ký hòa ước nhượng đất cho Pháp và ban hành sắc lệnh thôi cấm đạo Công giáo, các nho sĩ ở Nghệ Tĩnh đã phản ứng mãnh liệt. Từ giữa năm 1863, Giám mục Gauthier không thể vượt qua được biên giới đất Nghệ Tĩnh, mà phải lưu lại trên đất Quảng Bình, phía Bắc bờ sông Gianh, không phải vì Triều đình Huế không cho phép mà chính là vì tình hình lương giáo sôi sục ở Nghệ Tĩnh. Giữa năm 1866, Giám mục Gauthier, dựa vào tàu chiến Cosmao của Pháp, đậu trước cửa Hội, bắn những phát súng đại bác chào mừng, thị uy, mới về được Nghệ An. Nguyễn Trường Tộ cũng đã trở về quê hương trong bối cảnh đó. Rồi Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier, được Triều đình Huế tin dùng, trọng dụng, sai đi Pháp... Năm 1868, Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier, lại đã từ Pháp về với uy tín lớn, các nho sĩ lại phản ứng, phong trào Văn Thân ở Nghệ Tĩnh năm 1868, cũng như những năm sau đó quyết liệt hơn bất cứ nơi nào khác. Việc Giám mục Gauthier cho xây cất những ngôi nhà to lớn theo kiểu Tây phương tại Xã Đoài, một vùng nông thôn ở huyện Nghi Lộc, quả là một sự thách thức đối với các nho sĩ. Vì sự trấn áp của Triều đình, phong trào Văn Thân 1868 đã phải tạm ngừng hoạt động, nhưng vẫn âm ỉ.
Đối với Nguyễn Trường Tộ, việc xây cất cơ sở của Nhà chung Xã Đoài những năm 1868 - 1870 cũng như việc xây cất cơ sở của dòng Thánh Phaolô là ở Sài Gòn, một vùng đất bị tạm chiếm thì không sao: còn cơ sở Nhà chung Xã Đoài ở ngay một vùng đất mà sự nghi kỵ đối với Công giáo đang ở cao độ, thì quả là một sự khó có thể được tha thứ.
Chúng ta cũng không biết chắc Nguyễn Trường Tộ đã lập gia đình lúc nào. Có thể là sau tháng 4-1868, trong thời gian ông trở về Nghệ An, khi các dự án canh tân của ông gởi vua Tự Đức bị chống đối quyết liệt, bị bỏ dở. Trong bài Trần tình (Di thảo số 3, 13-5-1868 ), ông nói là “trong gia đình không hệ lụy vợ con”. Trong một văn bản đề ngày 15-3-1868 (Di thảo số 34) để biện bạch cho thực tâm gắn bó với đất nước của mình, ông lại nói: “Nếu tôi không có bụng ấy, thì chỉ có một bà mẹ già, khó gì chẳng cùng đem mẹ đi trốn được mà phải trở về”.
Theo lời kể của những người trong gia đình, Nguyễn Trường Tộ khi mất, có để lại một người con gái và một người con trai. Người con gái lấy chồng ở một làng kế cận, có nhiều con và nhiều cháu nhưng không có thành tích đáng chú ý. Người con trai là Nguyễn Trường Cửu. Nguyễn Trường Cửu, lúc thân sinh mất mới được 18 tháng, có tư chất thông minh, được học hành, thường được gọi là “Đồ Cửu”. Ông mất vào khoảng năm 1942 và có ba người con trai là Nguyễn Trường Võ, Nguyễn Trường Văn và Nguyễn Trường Triều.
Nguyễn Trường Võ cũng đã chết và chỉ còn hai người con gái, một người con trai chết lúc thiếu thời. Nguyễn Trường Văn, sau đổi tên là Nguyễn Trường Tín hiện là linh mục phụ trách xứ đạo Kẻ Gai, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Trường Triều cũng là linh mục, hiện ở châu Âu.
Nguyễn Trường Tộ sinh quán ở thôn Bùi Chu, thuộc huyện Hưng Nguyên. Nhưng năm 1868, khi Giám mục Gauthier dời trụ sở Nhà chung về Tân ấp (Xóm mới) tức Xã Đoài thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc ngày nay, Nguyễn Trường Tộ cũng đã làm nhà trước cổng Nhà chung để đốc suất công trình xây cất Nhà chung cho thuận tiện. Nguyễn Trường Tộ đã mất trong ngôi nhà này và được đem về chôn tại thôn Bùi Chu.
Không ai còn nhớ là ngôi nhà của Nguyễn Trường Tộ làm trước cổng Nhà chung Xã Đoài được dời về làng Bùi Chu, bên kia bờ Kênh Gai từ hồi nào và ngôi nhà của con cháu Nguyễn Trường Tộ ở Bùi Chu, năm 1950, đã được xây cất lại, nhưng năm 1953, lúc cải cách ruộng đất, ngôi nhà này được phân cho một người khác dỡ đi, gia đình Nguyễn Trường Võ đã làm lại một căn nhà tranh vách đất trên nền cũ, ngày nay bà quả phụ Nguyễn Trường Võ đang ở.
Trước mặt căn nhà tranh vách đất xơ xác này, cách khoảng 50 thước là ngôi mộ của Nguyễn Trường Tộ. Ngôi mộ này xưa kia là một nấm mộ đất lè tè. Năm 1943, với sự đóng góp của ông Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số thân sĩ ở Nghệ Tĩnh, một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch đã được dựng lên, hiện đang nằm chơ vơ, trên một gò đất cao, giữa đồng không mông quạnh, trâu bò hay người đều qua lại được…5. __________________________________ 1. Đào Duy Anh và nhiều tác giả nói: “thân”. Trên mộ của Nguyễn Trường Tộ ở làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, cũng ghi câu thơ này và cũng nói: “bách niên cơ”. 2. Phụ lục II. 3. Phụ lục III. 4. Kho lưu trữ MEP. 5. Xem “Ngôi mộ Nguyễn Trường Tộ”, bài và ảnh của Thọ Mai trên CÔNG GIÁO VÀ DÂN TỘC số 365-366 ngày 11-7-1982.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 10:46:20 PM » |
|
V. NHỮNG ĐỀ NGHỊ CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ Nguyễn Trường Tộ có một cuộc đời tương đối ngắn ngủi: Ông sống chưa đầy 42 năm. Nhưng cả cuộc đời của ông là một nỗ lực học hỏi và tìm tòi. Về nho học, như chúng ta đã thấy, ông được học khá bài bản. Còn về Tây học, thì ông quả có được các linh mục thừa sai và, đặc biệt, Giám mục Gauthier dạy cho tiếng Pháp và truyền đạt cho một số kiến thức khoa học, chỉ có thể là, rất phổ thông. Bởi vì các thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris (M.E.P) tuyệt đại bộ phận chỉ học xong chương trình phổ thông, rồi vào các đại chủng viện học làm linh mục để được gởi đến các nước truyền đạo. Để có các kiến thức chuyên môn, Nguyễn Trường Tộ đã phải tự học, nghĩa là phải đọc sách đọc báo, phải biết quan sát để tiếp thu và vận dụng. Đọc bài tựa sách Đàm Thiên (Di thảo số 58 ) chẳng hạn, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có những hiểu biết sâu sắc về thiên văn, là một môn học mà không phải ai cũng chuyên. Đọc tất cả các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi cho Triều đình Huế từ 1861 đến 1871, chúng ta thấy Nguyễn Trường Tộ quả là uyên bác. Đúng như ông nói trong bài Trần tình (Di thảo số 3), rằng: “ Về việc học thì không môn nào không để ý tới, cái cao của thiên văn, cái sâu của địa lý, cái phiền toái của nhân sự, cho đến luật lịch, binh quyền, tạp giáo, dị nghệ, các môn cách trí, thuật số, không môn nào tôi không khảo cứu, nhất là, để ý nghiên cứu về sự thế dọc ngang tan hợp trong thiên hạ”. Nguyễn Trường Tộ cũng là người của thực tiễn: Từ việc xây dựng nhà cửa, thành quách cũng như sửa chữa máy móc, và thăm dò mỏ quặng cho tới việc vẽ bản đồ, hướng dẫn học sinh thực tập về bách nghệ... ông nói là đều có biết. Những nhận định của ông về thế giới cũng như về Việt Nam, đất nước và con người, đều rất chuẩn xác. Với một nhiệt tình và một tài năng như thế, Nguyễn Trường Tộ đã kiên trì gởi lên Triều đình vua Tự Đức nhiều đề nghị cải cách, canh tân và hiện đại hóa đất nước. Những đề nghị này có thể đã được trình bày một cách quy mô và đầy đủ trong bài Tế cấp luận, được gởi lên Triều đình Huế đầu năm 1863. Nhưng có lẽ những đề nghị đó quy mô quá, rộng lớn quá, nên vua Tự Đức có thể cho là viễn vông mà không quan tâm tới. Điều đáng tiếc, đối với chúng ta hiện nay, là bài Tế cấp luận không còn để có thể thấy những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ, ngay buổi đầu, cụ thể như thế nào. Tuy nhiên với các kế hoạch chi tiết được trình bày trong các bản văn kế tiếp chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ có trong đầu óc cả một chương trình cải cách có hệ thống và toàn diện. Nghĩa là tất cả những gì cần thiết cho công cuộc hiện đại hóa đất nước, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự, ngoại giao... đều đã được lần lượt đề cập tới như một đòi hỏi của quy luật phát triển hay như một yêu cầu bức thiết của thời cuộc. 1. VỀ CÔNG NGHIỆP Đối với Nguyễn Trường Tộ, cũng như đối với quy luật của lịch sử và của xã hội, kinh tế là vấn đề hàng đầu. Ông nói: “ Tôi thiết nghĩ trong ngũ phúc, phú đứng đầu, triệu dân trước tiên lo ăn” (Di thảo số 53). “ Nếu bị cái nghèo đói thúc bách thì lo kế sống cũng không xong, còn hơi đâu mà bàn lễ nghĩa” (Di thảo số 18 ). Do đó, Nguyễn Trường Tộ luôn luôn quan tâm trước tiên đến việc làm cho dân giàu nước mạnh. Bởi vì dân có giàu, nước có mạnh mới cứu được nước và giữ được nước. Trong bài Dụ tài tế cấp bẩm từ (Di thảo số 5), ông nói: “ Cách làm cho nước mạnh là ở chỗ tạo được nhiều của. Của cải nhiều thì lương thực đủ, khí giới tinh, thành trì vững, quốc phí đầy, các việc lợi ích do đó mà ra, các việc tai hại do đấy mà giảm bớt. Một khi có biến cố lớn xảy ra, chỉ cần lấy của cải trong kho Nhà nước, khỏi phải phiền lụy đến dân. Sự lợi ích đó không thể kể xiết. Nay nước ta của công chỉ nhờ vào thuế, mà thuế đánh thì có hạn, chứ không có cách gì để làm cho của cải nhiều như phương Tây. Cái tôi gọi là làm cho có nhiều của cải ở đây không có nghĩa là nói bòn rút của dân để làm cho nước giàu, mà nhân nguồn lợi tự nhiên của trời đất để sinh ra của. Do đó nước giàu mà dân cũng giàu”. Chúng ta không biết là Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị những gì về kế hoạch phát triển kinh tế - tài chính trong bài Tế cấp luận (đầu năm 1863). Nhưng trong bài Dụ tài tế cấp bẩm từ (được viết vào giữa năm 1864), sau khi trình bày về phương pháp làm súng đạn và khai thác mỏ than là những điều Triều đình hỏi, Nguyễn Trường Tộ đề nghị một kế sách rất đơn giản, không cần nhiều trang thiết bị và không đòi hỏi kỹ thuật cao, điều mà chúng ta đang làm ngày nay, đó là tổ chức xuất khẩu nông, lâm, hải và khoáng sản. Và nông, lâm, hải sản là những nguồn hàng dồi dào và dễ khai thác nhất, nên Nguyễn Trường Tộ đề nghị Nhà nước mua và đóng tàu cũng như khuyến khích nhân dân mua tàu chở các hàng nông, lâm, hải sản đến cảng các nước bán, rồi mua các thứ hàng hóa trong nước cần dùng đem về. Theo Nguyễn Trường Tộ, thì: “ Đấy là một điều lợi lớn. Vì rằng những hàng hóa mình có, trừ số cần dùng ra, còn thì đem chở bán cho họ, họ lại bán cho nước khác, như thế thì họ không cần phải đến nước mình làm gì. Nếu như họ muốn đưa hàng hóa sản vật của họ sang, thì đã có tàu của nước mình chở về để trao đổi với người cùng quê hương xứ sở, chẳng dễ hơn là mua ở bên nước họ hay sao? Như thế thì tự nhiên họ không cần phải tìm đến nước mình nữa. Sở dĩ họ tìm đến cầu thông thương với mình là vì người mình không thể đi xa mà thôi” (Di thảo số 5). Về tổ chức hàng hải, thì Nguyễn Trường Tộ có hai văn bản (Di thảo số 6 và số 7, vào cuối 1864 - đầu 1865), trong đó ông đề nghị với Triều đình là nên gởi người sang Anh, sang Pháp học về cách điều khiển và sửa chữa thuyền máy, trước khi mua tàu, bởi vì như thế mình mới chủ động và đỡ tốn kém hơn là thuê người nước ngoài: nếu có mua thuyền máy thì cũng chỉ mua một hai chiếc làm mẫu, rồi mình tự tổ chức đóng lấy. Trong bài Khai hoang từ (Di thảo số 8, tháng 2-3 năm 1866), Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở cửa cho các nước vào thông thương buôn bán và đầu tư khai thác tiềm năng của đất nước. Bởi vì, theo ông, người Tây phương, nhất là người Pháp đã thấy được là Việt Nam có nhiều tiềm năng: “ Hiện nay các hội buôn của họ sang nước ta, có hội thì muốn xin mở đường xe lửa suốt cả Nam Bắc; có hội muốn xin khai mỏ dọc theo các núi; có hội muốn xin cho thuyền đi dọc theo biển để tiễu phỉ; có hội muốn thông đường buôn bán. Các người này một mặt xúi giục các quan của họ sớm làm cho thành chuyện, một mặt đánh tiếng xin dần để dò xem như thế nào. Vả lại vua quan của họ cũng có thâm ý riêng. Từ quan đến dân, không ai là không chú mục vào nước ta”. Do đó Nguyễn Trường Tộ đề nghị là Triều đình nên chủ động chuẩn bị các điều kiện để khi họ xin thì mở cửa đón họ vào, để mình làm chủ, họ làm khách, chứ nếu không họ sẽ lập mưu chiếm hết, rồi họ làm chủ, mình là đầy tớ. Hơn nữa, thuyền bè họ qua lại, mình thu được thuế cho ngân sách và loại trừ được giặc biển là tai nạn lớn của thuyền bè nước ta. Về khoản khai thác các tiềm năng của đất nước, chúng ta lại thiếu vốn, thiếu chuyên viên kỹ thuật. Ông nói: “ Ngày nay cái mà ta thiếu nhất là tiền của. Vì không có tiền của cho nên trăm việc gì cũng không làm được. Hơn nữa đồ khí dụng của ta chưa đủ, tài trí chưa vươn tới, lại chưa có tiền của để mua máy móc kỹ thuật. Nay nếu đem một nửa số nhân tài cả nước và một nửa của cải ra thực hành thì cũng phải đợi vài chục năm sau mới có hiệu quả. Huống chi trước khi chưa được lợi, sợ có một biến cố gì khác xảy ra thì tài lực của ta có khi lại bị họ dùng. Vả chăng dân tình yêu ghét chưa giống nhau, ý kiến còn chưa thống nhất, thì vị tất đã hiểu rõ được ý nghĩa tạm thời tổn phí để được yên ổn mãi mãi”. Ông lại nói cho Triều đình thấy rằng: “ Nếu để cho người nước ngoài vào đầu tư khai thác, thì không những Nhà nước được thu lợi, mà nhân dân có việc làm, lại được học tập, làm quen với khoa học kỹ thuật Tây phương; dân là dân của ta, đất là đất của ta, họ có đem đi đâu được mà ta sợ?”. Cuối cùng, nếu Triều đình còn nghi ngại chưa quyết định ngay được thì ông đề nghị: “ Xin gấp rút mời vài người Tây có thể tin cậy được hậu đãi họ, tức tốc cùng vài người của ta thông hiểu sự việc, trước hết dọc theo ven núi ven biển tìm kiếm, chỉ định rồi sau chọn lấy những mỏ tốt nhất mà dễ lấy, dành lại về sau để tự khai thác. Trừ những mỏ nào mà ta đã khai thác, còn những mỏ nào mới tìm được mà khó lấy thì ta giao cho họ lấy, ta hưởng nửa phần lợi”. Sau chuyến công cán ở Pháp năm 1867-1868 cùng với Giám mục Gauthier, Nguyễn Trường Tộ càng thấy rõ là có thể bắt tay ngay vào việc khai thác mỏ và thiết lập các nhà máy dệt vải, nấu đường, dập đinh và sản xuất các hàng tiêu dùng. Trong văn bản đề ngày 5-3-1868 (Di thảo số 29), viết sau khi đi Pháp về, Nguyễn Trường Tộ nhắc lại ba phương thức mà ông đã đề nghị (Di thảo số 8, số 25 và 26) là: Cho các công ty nước ngoài tự khai thác rồi ta thu lợi một phần; ta với họ liên doanh; ta tự làm lấy. Rồi ông đề nghị là, nếu Triều đình còn chưa muốn cho các công ty nước ngoài đầu tư, ta tự làm lấy. Ông nói: “ Một mặt dần dần phân biệt đất mỏ. Một mặt có người đi Tây chọn mua một ít khí cụ, như những đồ đào mỏ, đúc sắt, luyện kim, dệt vải, nấu đường, đúc súng lớn, súng nhỏ, dập đinh, đúc hỏa mai theo lối Tây… và các đồ dùng thường ngày dễ làm và có thể dùng làm mẫu (...) đem về để dùng ngay vào việc khai thác nguồn lợi. Một mặt, nên đi thuê thợ để tìm công dụng lớn. Ba mặt ấy, hiện nay, đáng lẽ phải khởi hành ngay trong một lúc. Nếu không làm, thì một ngày lại một ngày, một năm lại một năm, người ta tiến mà mình lùi, quyết không thể đứng yên được”. Thế nhưng Triều đình Huế hầu như không làm gì cả, ngoài việc mua được hai chiếc thuyền máy cũ kỹ chỉ dùng tạm được mấy năm. Trong một bài viết, hai tháng trước khi lìa trần (Di thảo số 52), Nguyễn Trường Tộ đã phải than phiền rằng: “ Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành, trăm năm cũng chưa hết. Thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thực hành tý nào, chả lẽ đợi tới trăm năm sau mới thực hành được sao?”.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2010, 07:21:46 PM » |
|
2. VỀ NÔNG NGHIỆP
Nông nghiệp, đối với một nước lúc bấy giờ 99% dân chúng sống bằng nghề nông, là một vấn đề quan trọng. Chính Nguyễn Trường Tộ cũng nhìn nhận rằng: “Nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống đều nhờ vào nông nghiệp” (Di thảo số 27).
Cuối bài Về nông chính (Di thảo số 53), Nguyễn Trường Tộ nói: “Những trang này là một điều trong bài Tế cấp luận”. Chúng ta không biết là Tế cấp luận còn nói gì thêm về nông nghiệp nữa chứ trong ba văn bản mà chúng ta hiện có nói về nông nghiệp (Di thảo số 18, 27 và 53), thì chủ yếu chỉ nói về cải tiến kỹ thuật mà thôi.
Trong văn bản viết ngày 1-9-1866 (Di thảo số 18 ), như đề xuất việc thu thập kinh nghiệm và phát huy sáng kiến về mọi mặt thuộc đời sống của nhân dân, Nguyễn Trường Tộ có xin:
1. Đặt ra khoa hải lợi, để xét và khen thưởng cho những ai có sáng kiến mới trong nghề làm muối, đánh cá, ướp cá, nuôi cá...
2. Đặt ra khoa sơn lợi, để xét khen thưởng cho những ai tìm ra cách phát hiện và khai thác mỏ, tìm ra phương pháp luyện kim, săn bắt thú quý, lấy được gỗ quý...
3. Đặt ra khoa địa lợi, để khen thưởng cho ai khai khẩn được đất hoang hóa, đầm lầy hoặc biết trồng trọt có năng suất cao...
4. Đặt ra khoa thủy lợi, để khen thưởng những ai biết đào kênh, đắp đập, tưới tiêu chống hạn, chống úng...
Trong Tế cấp bát điều, viết ngày 15-11-1867 (Di thảo số 27), khi nói về cải cách học thuật, môn học đầu tiên được đưa vào chương trình là khoa nông chính. Khoa nông chính này cũng chỉ là thu thập kinh nghiệm của nông dân khắp nơi để soạn ra sách “nông chính toàn thư” cho nhân dân học tập. Trong đoạn văn ngắn ngủi về nông nghiệp của Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lập Bộ canh nông như ở các nước Tây phương. Bởi vì, ông nói: “Ngành trồng trọt chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ, giáo dục, đốc suất...”. Nhất là trong nhân dân có nhiều tập tục mê tín dị đoan cản trở việc khai hoang phục hóa, tưới tiêu mà không có ai dám chủ xướng cải cách.
Trong văn bản “Về nông chính” (Di thảo số 53, viết ngày 4-10-1871) Nguyễn Trường Tộ đề nghị đặt nông quan để phụ trách vấn đề nông nghiệp ở mỗi huyện. Ở các nước Tây phương thì các nông quan đều xuất thân từ các trường lớp và qua sát hạch về các kiến thức cần thiết cho nghề nông. Còn ở nước ta, để bắt đầu, Nguyễn Trường Tộ xin chọn trong số các cử nhân, tú tài mỗi huyện một người, cho học “Nông chính toàn thư”, rồi vừa học vừa làm. “Tất cả mọi việc về nông chính là khai hoang, (nông quan) đều phải nắm chắc trong tay. Tất cả vườn ao, trang trại, núi đồi, gò nõng dần dần vẽ thành bản đồ. Dần dần từ bỏ các tệ đoan tồn tại trong dân từ trước, mỗi ngày đi tuần chỉ vẽ cho dân làm, y như mình là người chủ nông vậy. Nhưng chủ nông là người chỉ biết làm giàu cho gia đình mình, còn quan nông chính là người lo cho sự giàu có của toàn huyện”.
Quan nông chính không những phụ trách về nông nghiệp, mà còn phụ trách cả về thủy lâm. Trong Tế cấp bát điều (Di thảo số 27) và trong bài Về nông chính (Di thảo số 53) Nguyễn Trường Tộ có nhiều ý kiến về ích lợi của việc trồng cây gây rừng và việc bảo vệ muông thú...
Trong bài Về nông chính (4-10-1871) ông nói: “Đối với vườn tược trang trại, đất núi, đất rừng cũng vậy, phàm trồng cây gì dùng để lấy gỗ hay cây gì ăn được, đều nhất định phải theo phép quan mà làm. Quan nông chính sẽ thân hành cắm tiêu làm dấu phạm vi trồng, thích hợp trồng cây gì và chỉ vẽ các cách ươm trồng vun xới. Đến khi cây mọc tốt thì hằng năm vào mùa thu quan nông chính lại đi tuần xem chỉ vẽ cây nào nên cắt bỏ nhành nào, hướng nào. Khi cây đã đến kỳ dùng được hoặc cây nào bị trùng đục, cần phải chặt bỏ thì cho hạ xuống mà dùng rồi lại trồng một cây con bên cạnh. Nghiệp chủ tuyệt đối không dám cắt bỏ một nhánh con theo ý mình. Hãy xem phương Tây, ở đồng bằng mà người ta cũng đều trồng cây nơi bờ ruộng ngay hàng thẳng lối xanh mắt đẹp đẽ chứ không riêng gì ở núi rừng mà thôi. Làm như thế không phải chỉ đặc biệt để có của cải sử dụng mà còn quan hệ rất lớn (...) Hãy xem tỉnh Nghệ An về mùa hạ miền trên mưa nhiều, còn miền dưới núi thấp đồng trống, ví dụ như hai huyện Hưng Nguyên và Chân Lộc mưa rất ít. Nếu có mưa nhiều thì phần lớn đó là mưa từ miền trên di chuyển xuống, hoặc tự Hồng Lĩnh tản ra bốn phía. Đó là một chứng minh. Xem thế mới biết cái gì trời sinh ra là có lý rất nhiệm mầu. Không có đất đai nào không có cây cối đó là để tiếp hòa khí đất, thích hợp cho vật cho người, công dụng của nó rất lớn. Thế mà con người chẳng biết quí trọng, muốn chặt phá là chặt phá, bò dê ăn phá dẫm đạp. Thậm chí mùa khô, một đóm lửa cũng đủ cháy lan một dải núi lớn, tấc cỏ chẳng còn, nói gì đến cây cối nữa...”
Cũng trong bài Về nông chính, Nguyễn Trường Tộ nói: “Trước thì phải tuân theo thời tiết, sau thì khuyến khích sức dân, sau nữa thì khai thác hết nguồn lợi đất đai. Như thế để dạy dỗ dân tất cả phải hết sức mình cho sinh kế. Những nơi đồi núi cheo leo, không trồng được lúa đậu, thì trồng cây, trồng tre (...) Theo phép ấy thì săn thú không săn thú bầy; không bắt thú con; bắt cá không tát cạn ao đầm; không đốt rừng để săn thú; sói chưa tế thú không được săn, rái chưa tế cá không được thả lưới; chim cắt chưa báo tin thì bẫy lưới không được chăng gài nơi khe suối, cây cỏ chưa rụng lá thợ rừng không được vào núi rừng chặt hái, côn trùng chưa đến kỳ sinh nở, không được đốt ruộng nương; không giết vật có thai, không phá tổ hốt trứng, không bắt cá chưa đủ thước tấc, không giết heo chưa đúng kỳ...”
Vấn đề chủ yếu trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là phải phổ biến rộng rãi các kiến thức trong nhân dân. Thời Nguyễn Trường Tộ “nước ta đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy. Nay bỗng nhiên muốn thi hành, thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới dân thì nghĩ rằng cứ mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày, đợi gì phải dạy!”. (Di thảo số 53).
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
|