chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #190 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:25:37 PM » |
|
DI THẢO SỐ 43 Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác*(Ngày 18 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức 7 tháng 4 năm 1871). Kính bẩm. Xưa Cam La có nói: Phép thương thuyết là tùy cơ lựa lời như sóng theo gió nổi không thể định trước được. Do đó trong việc phân giải để tránh khỏi hoạn nạn cần phải biết rõ cái lợi hại trăm năm của phía ta để biện luận giao ước với người mới khỏi bị thiên lệch. Ở đời nếu phải thiệt hại thì cố chọn cái hại nhỏ nhất. Nếu ở vào thế bất đắc dĩ thì phải tạm nhận lấy cái nhẹ còn hơn không chịu để sau này phải gánh lấy cái nặng nề. Ta đã dùng họ tranh chấp và xử phân tất nhiên ta và họ bên nào cũng đều có tâm lý vị kỷ cả, bên nào cũng so đo cái tốt xấu lợi hại, ta không thể nào chiếm riêng phần lợi được. Huống chi ta lại thương thuyết với kẻ mà thế lực ta không định nổi thì làm sao có thể thoát tránh hết mọi cái hại được? Khi gặp những tình thế như vậy mà quân bình được lợi hại, mới thật là người khéo xử trí. Còn như vấn đề giao thông thì người và ta hai bên đều có lợi. Vấn đề này thuộc về sự thỏa thuận giao dịch giữa hai bên chứ không phải như thứ hòa ước thua trận. Hơn nữa về khoản giảng hòa này ta phải biết rõ cái âm mưu quỷ quyệt của họ, giả vờ thuận theo cái kế họ dùng để lung lạc ta mà đâm lại họ, hoặc xem trong tình thế hiện tại của họ sẽ nảy sinh điều gì, tạm thời theo ý họ để suy ra xem địch và ta cái nào lợi cái nào hại, tùy cơ mà suy nghĩ, tùy tình thế mà giải quyết. Điểm này thuộc về kỹ thuật của binh gia. Tự mình phải hiểu rõ thế mạnh của ta và người, nắm cho được cơ hội giao thiệp qua lại để tính toán đúng những sự thắng bại trong tương lai, từ đó, để quyết định cho phù hợp tất cả ngay tại bàn thương nghị. Đó là việc khó nhất trong cái việc khó. Thí dụ như tình thế của ta đang phải nhượng bộ, nhưng trong điều kiện nhượng bộ đó phải tính toán sao cho mai sau có thể thắng họ, hoặc làm sao cho chiến tranh không xảy ra, hoặc nhượng ở điểm này mà thắng ở điểm khác. Như thế tuy nhượng bộ nhưng có thể tiến lên, còn họ tuy đang lấn lướt nhưng rồi cũng phải nhượng bộ. Điểm này nếu không phải là người hiểu biết cái mấu chốt của binh gia, quyết không thể thực hiện được. Cho nên nói điểm này rất khó là như vậy. Còn như cách phụ giúp vào việc gỡ cái khó khăn này thì trước hết phải tìm được bạn tốt ngay trong Triều đình họ giúp đỡ cho mình, thì mình mới có cái thế đối địch với họ và họ mới kính nể mình. Còn về quốc thể thì xưa nay hai bên giao ước qua lại với nhau không có tính cách giả dối. Thử xem thời Chiến quốc nhiều nước trao đổi con tin, trao đổi tướng để thực hiện kế liên hoành. Các nước phương Tây ngày nay cũng đặt lãnh sự ở các thành phố và đặt đại sứ ở Kinh đô để duy trì sự thế và giải quyết khi có việc gì xảy ra. Nay đối với các kế lớn mà Đông Tây xưa nay đều thi hành, ta chưa thi hành kế nào cả. Đến khi bức bách mới vội vã đi cầu kế, bấy giờ lại thấy khó thi hành. Từ khi người Tây gây sự với ta đến nay, tất cả thư từ qua lại với họ thương lượng xin xỏ châm chước việc nọ việc kia ta đều đích thân đến nước địch mà cầu xử việc chiến trường. Như thế quan của họ ví như kẻ nguyên cáo mà ta là kẻ bị cáo, không ai là người nguyên cáo và bị cáo cả, mà bị cáo lại đến nguyên cáo xin phán xét. Như vậy việc ấy rốt cuộc không thể nào phân minh. Đó là lý thông thường. _________________________________________ *. Bản văn chữ Hán Hv 634/3 tờ 138-172. Không ghi ngày tháng. Nhưng Từ Ngọc Nguyễn Lân, sdd nơi trang 32 có trích một đoạn của bài này và nói là ngày 18-2 năm Tự Đức 24.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Một, 2011, 09:32:54 PM gửi bởi chuongxedap »
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #191 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:27:00 PM » |
|
Sở dĩ từ trước đến nay tất cả mọi việc, việc gì họ cũng chiếm ưu thế mà không tương nhượng cho ta chút nào là vì thứ nhất họ biết thế lực ta không địch nổi họ, thứ hai biết không có một nước lớn nào giúp ta, không có sự viện trợ của nước láng giềng, thứ ba biết ta không thể thâm hiểu tình hình nước họ mà cân nhắc lợi hại tạm nhận lấy một điều, thứ tư biết ta việc gì cũng không thể phán đoán đúng, chỉ thấy lợi mà không thấy con đường tiến tới, thế có thể làm được mà không làm, việc đáng làm mà không làm, chỉ muốn ngồi yên mà làm cao để cho họ tha hồ tự tung tự tác không chút e ngại, chẳng phải xử sự theo công lý gì cả. Nay nếu Triều đình nhân cơ hội này quyết định đi Tây, đó cũng là việc nên làm theo thời thế, nhân thời thế mà liệu định công việc, nhân công việc mà thi hành mưu kế. Dù không được mười phần như ý muốn nhưng cũng không phải là không biết thời thế. Nếu thành công thì đó là do trời. Đâu có thể đem cái vinh hiển hay tối tăm mà luận việc thành bại được sao? Bài Lục lợi từ trước đây tôi đã nói: Họ đã rảo khắp thiên hạ đem kế này mà thi hành được ở nước này thì lại đem thi hành ở nước khác. Nếu muốn chống lại họ thì phải coi cái gương nước nào đã trúng kế của họ, hoặc theo đường lối mà nước nào đã dùng để thoát khỏi cái kế của họ. Như thế thì xảo thuật của họ cũng phải hết thôi.
Lần này ta đi Tây, thứ nhất là để hoàn thành công việc chưa xong trước đây, thứ hai là để lập mưu khéo léo ngăn chặn họ sau này. Chuyến đi này quan hệ khinh trọng đối với nước ta không phải nhỏ. Ta phải có bốn đường lối sau: Một là ở tại nước họ ta dùng kế lấy lại một cách nhẹ nhàng, hai là tìm các nước giúp đỡ để dùng sức giành lại, ba là tìm nước bạn để làm trung gian dàn xếp, bốn là cầu giao thông để giữ cái chưa mất. Lập mưu kế bằng bốn đường lối này thì thật trọng đại, thật trường cửu. Không nên chậm trễ để mất cơ hội. Bởi vì trước đây thế lực của họ mạnh mẽ, nếu ta cứ nằng nặc xin tức phạm vào điều tối kỵ của họ khiến họ ghét. Còn nếu muốn thực hiện ngoại giao tức muốn ngăn chặn mưu kế quỷ quyệt của họ thì sợ lỡ ra việc ngoại giao không thành mà bị họ ra tay khống chế trước. Nay thì không phải như vậy nữa. Cho nên nói rằng thời thế đã đem cơ hội lại cho ta là như vậy.
Nay tôi xin nêu lên các nước trước đã từng giao kết với họ, chắc chắn họ sẽ dùng đó để yêu sách ta, vậy trong bốn đường lối nói trên tôi xin trình bày đại lược cách đối phó. Việc lựa chọn là ở Triều đình, được hay chăng do Triều đình quyết định trước để dễ tiến hành công việc. Nếu ngoài những điểm căn bản có nảy sinh một vài chi tiết nhỏ nhặt không hại đến đại cuộc lâu dài thì vì đại sự cứ việc tiến lên, những gì nhỏ nhặt có thể lùi bước mà chấp nhận, không nên đảo ngược những gì đã trù tính sắp đặt mà khó khăn ra.
Đường lối thứ nhất là áp dụng mưu kế ngay tại nước họ. Đối với đường lối này tôi không dám nghĩ Triều đình sẽ đánh giá như thế nào. Có điều tôi chỉ xin là trong thư không nên nói rõ là Triều đình đặc biệt cho toàn quyền được tiện nghi châm chước quyết định ký kết các điều khoản. Như vậy nếu có khoản nào ra ngoài ý định của Triều đình, hoặc thiên lệch quá nặng thì phải đợi tâu về cho Triều đình định đoạt. Nếu thương nghị mà vượt quyền hạn thì dù đã ký, hiệp ước vẫn coi là bất thành v.v...
Đó là cái kế ta mở ra hai lối để có thể thoát thân. Bởi vì trong khi nghị ước sợ có những điều khoản quan trọng mà họ chiếm phần ưu tiên, họ cho là đắc kế rồi thôi thúc ta sớm hoàn thành việc ký kết để hy vọng có thể vin vào đó mà khơi mối manh. Nhưng ta thấy cái cơ như thế ta sẽ không hoàn thành việc ký kết ngay mà sẽ để lại để tính sau. Trường hợp ấy ta sẽ nhờ câu này để mở lối thoát mà họ thì không có lý lẽ gì bắt bẻ ta được. Về khoản thứ hai trong tờ công bố phải kê khai hết các khoản y như trong quốc thư. Nhưng xét tùy theo khoản mà lập thí dụ. Như nói: Nếu được như vậy thì tốt rồi, bằng không thì giảm một hai phần cũng được. Giả sử như họ chỉ trả cho không ba tỉnh trong, còn ba tỉnh ngoài phải trả tiền bồi thường mỗi năm 50 vạn đồng cho đến 50 năm mới chấm dứt. Phía ta thì đã có chỉ lệnh là mỗi năm chỉ phải bồi thường 2 vạn đồng đến 20 năm mà thôi.
Nếu họ không chịu thì thêm một hai phần v.v... Bất luận khoản nào ta đều cố dùng lời lẽ nhẹ nhàng. Đoạn cuối nói: Đặc biệt cho trọn quyền tiện nghi mà làm. Như trong các khoản hoặc phải thêm một vài phần mười cũng phải trình tờ công bố với Triều đình họ xin lấy tờ công bố này làm căn bản để tiện hoàn tất, Triều đình chúng tôi xin tuân y theo tất cả v.v... Đó là cái kế ta mở ra hai lối mà lối nào cũng xong việc. Bởi vì họ tưởng rằng việc hòa nghị tuy đã xong nhưng trong đó họ cũng có thể trông ngóng được. Họ cho rằng nếu thành sự họ cũng chẳng được lợi gì. Họ muốn viện cớ câu nói rằng: Đợi quốc thư tâu về định đoạt, là cố ý trì hoãn công việc để dò xem tình thế của họ ngày sau ra sao mà lật ngược thế cuộc. Còn đối với ta thì ta biết rõ ý họ là như vậy. Nếu nay không sớm hoàn thành ngày sau sẽ còn khó hơn nữa. Bấy giờ sẽ đem tờ công bố chung trình ngay để thi hành. Nếu tình thế bắt buộc phải có thêm bốn, năm phần mười cũng còn lợi cho ta. Như vậy thì ta sẽ viện câu nói trong chứng thư rằng: Tuy có gia thêm nhưng Triều đình chúng tôi đều tuân y theo tất cả, để nhất định hoàn thành giao ước, họ cũng khó có thể nào quanh co tránh né được.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #192 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:27:42 PM » |
|
Về khoản thứ ba Triều đình dựa vào nghị định này mà thành giao ước. Cứ xét theo khoản mà lượng định sao cho phải người phải ta (Đây là việc khó nhất), kê khai các khoản ấy vào tờ công bố chung, cố dùng lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng Triều đình thì đã định trước rồi, tức là dù phải thêm 4, 5 phần mười cũng được. Việc nghị định này của Triều đình xin chép thành một bản lưu chiếu, một bản giao sứ thần mang theo để dựa vào đó mà quyết định công việc. Về khoản thứ tư đối với bốn đường lối trên đây nếu phải thực hành cùng một lúc và đã định đi đến nước nào thì trong công thư xin biên rõ viên quan nào, chức gì, chuyên trách công việc gì, trừ chánh sứ có quyền quyết đoán, trong hội nghị hoặc trong khi triều yết, dưới chánh sứ có viên quan nào được cùng ngồi để đối đáp thay một vài điều. Những vị ấy phải mời trước cho rõ ràng thì khi vào việc mới có thể giúp đỡ nhau được. Nếu không thì những người dưới sẽ bị họ xem khinh lời nói yếu ớt chẳng ăn nhằm gì với sự thể. Như thế dù có đi theo cũng chỉ cho đủ số chẳng bổ ích được tý gì mà còn thêm tốn kém. Nói như thế không phải là xin cho những người dưới được đương nhiên tranh biện đối đáp như chánh sứ. Nhưng để khi chánh sứ có điều gì nghi ngại chưa quyết định có thể quay lại trao đổi thảo luận, hoặc giả làm ra vẻ mệt mỏi rồi nhờ thay lời, hoặc chánh sứ giả vờ nói: Xin quý quan thử hỏi ý kiến phó viên xem thế nào để chiết trung. Những điều đó đều giả vờ làm trước mặt họ như vậy để tiện thương nghị với nhau mà thôi. Còn như tôi ở ngoài thì có thể nhờ cách che chở của Tạ Đạo Uẩn để giải vây nếu bị mai phục.
Khi đã đến bên ấy rồi cố làm ra vẻ mệt mỏi mấy ngày để cho tôi ngầm tìm đường lối thông tin tức hoặc tìm được bạn tốt, trước hết đem mật ý của mình (Nếu muốn người ta chịu giúp cho thì tuyệt đối không được tiết lộ ra ngoài) cầu mưu xem tình thế được chăng, hoặc cầu được viên quan lớn nào ngầm giúp thông báo tình hình cho ta, hoặc viên ấy có chức vị và ngầm bảo cho ta biết rằng: Nếu Triều đình họ có bàn riêng việc của ta, y sẽ làm như vô tình mà cản trở bên trong, hoặc trước tiên ngầm đến quan Pháp viện đem lý lẽ của ta cầu xin y nếu thấy là phải thì nhờ y đến chiết trung, hoặc đến vị công tử con quan tể tướng ở Viện Thứ Dân (Năm xưa tôi đã ở nhà y tám ngày) và một hai vị quan lớn mà ngày xưa tôi có quen cầu họ giúp đỡ, hoặc chánh sứ sai tôi trước hết đến viên đại thần đương sự bên ấy trình bày hết tình ý xem y nói ra sao, cứng hay dịu, có giọng khinh người không, hoặc trợn mắt xẵng lời mà nói năng không nhất định, hoặc nói năng thuần hậu, hoặc khi nói dụng ý khi nói vô ý để thăm dò ý ta, hoặc làm bộ bày vẽ kế sách cho ta xem ta có sa vào bẫy của họ không. Tất cả tôi sẽ về bẩm lại với chánh sứ trước để khi vào việc mà đối đáp với họ khỏi sai lầm sơ hở và không nhầm chỗ, hay muốn làm kế phản gián cũng được.
Những việc này chỉ một mình tôi có thể làm được và chắc chắn không làm nhục đến mệnh vua. Sức học của tôi có thể đem ra ứng dụng với đời, mà nói về tạm dùng quyệt kế thì tôi cũng có thể làm được cho nên dám bạo dạn tự thử để báo đền trong muôn một. Khoản thứ ba này nói chung gồm cả bốn đường lối chứ không phải chỉ riêng một đường lối vận động tại nước họ mà thôi.
Về khoản thứ tư như nếu có đi chu du nước khác thì trong quốc thư chỉ nói hồn hàm sơ lược một hai việc mà lời lẽ đều hàm hai ý song quan. Đoạn cuối nói: Tuy có toàn quyền nghị bàn công việc và ký kết, song vì việc có tính cách dài lâu, cần phải về tâu lại rõ ràng mới được. Còn trong chứng thư thì lại nói rõ rằng: Trừ các khoản cần phải tâu rõ ở trên, nếu có việc gì quan hệ binh cơ thì đặc biệt cho toàn quyền quyết định, tức tốc thi hành. Vì việc binh quý ở thần tốc không thể trì hoãn. Cũng cần thêm một hai quốc thư, trong thư chừa trống tên nước gởi đến và không dán phong bì, để phòng khi đến nước này mà công việc có quan hệ đến nước kia cũng cần phải thương nghị thì sứ thần sẽ điền tên nước ấy vào gởi cho tiện. Trong thư chỉ nói việc thông hiếu mà không nói rõ những khoản gì. Cuối thư nói: Nếu có việc gì cần phải làm thì cho phép toàn quyền thương nghị nhưng phải chờ quyết định v.v...
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #193 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:28:35 PM » |
|
Về khoản thứ năm phải có một chứng thư riêng trong đó nói: Nếu tiện có thể đi các nơi tìm hỏi các hội và các thợ công nghiệp tham khảo xem có thể đem về nước ta làm việc được chăng, hoặc có thể hỏi thăm các cơ xưởng tìm mua khí cụ cần thiết cho nước ta dùng, hoặc có thể mua một vài thứ, hoặc có thể lấy giá đem về để sau này sẽ gởi mua, hoặc có thể tìm người nào có thể làm việc cho ta để dạy tập các nghề, hoặc có thể thay làm đại sứ, hoặc tìm hỏi các cư xá học nghề thương lượng việc thuê mướn, khi về sẽ phái người qua ở học, hoặc tìm hỏi thầy kiện hoặc Viện Luật Pháp để hỏi thăm về sự thể để khi về bắt chước.
Tất cả những việc ấy đều để che mắt việc thi hành kế ngầm tìm đường lối. Nếu không thế thì khi mới đến nước người, chưa nói công việc chính mà đã chạy rảo khắp nơi sẽ khiến người sinh nghi. Hơn nữa thăm hỏi chúng như vậy (Kể chung cả các nước), chúng sẽ vui mừng qua lại với ta do đó mới có thể thăm dò được tình hình của chúng để thi hành kế của ta, và chúng cũng biết ta có ý muốn thông đồng với chúng, cho nên trong lòng chúng cũng mong tưởng mai sau cũng có thể hợp tác với ta. Khi đã đồng lòng với ta rồi thì chúng càng thêm thân tín ta. Còn các khoản ấy sau khi về rồi muốn làm hay không muốn làm đó là quyền của ta, đâu đã làm tờ giao kèo định ước gì mà sợ ngại. Khoản này trước hết nên giao cho tôi, về mặt ngôn ngữ tôi đã có cách xoay chuyển. Nếu sau này có nảy sinh điều gì thị phi, cập lụy đến quốc gia tý gì, tôi sẽ xin chịu tất cả. Nhưng về sau Triều đình muốn dùng khoản nào sẽ do phái viên tự thân hành mua sắm, tôi không dám dính dự vào.
Về khoản thứ sáu, nếu nước họ trả lại sáu tỉnh mà đòi bồi hoàn các chi phí kinh doanh tạo lập trong lúc họ đang thiếu tiền, không chịu trả dần chỉ đòi phải trả đủ trong một năm, hoặc họ khai rõ sở phí quá nhiều, hoặc họ muốn chiếm cứ lâu dài các thành phố sáu tỉnh, hoặc họ muốn sang sông Tiền Giang, hoặc Tân Bình Giang, vũng Đà, họ và ta đều có quyền lợi chung, dân buôn của họ lui tới không được đánh thuế, trừ các nước khác thì không kể, hoặc họ muốn ven sông những nơi nào xung yếu họ được lập đồn bót, hoặc họ buộc ta không được đặt đại binh trong sáu tỉnh, chỉ cần một ít lính để tiện khi đuổi bắt trộm cướp mà thôi, nếu có giặc cướp lớn họ sẽ giúp đuổi bắt, hoặc họ muốn ở Gia Định thì họ đóng căn cứ từ xã Hạnh Thông thẳng đến Chợ Lớn; Đông Nam Bắc ba mặt bao sông và một dãy bãi đậu thuyền ở Thủ Thiêm, hoặc từ Rạch Ông đến đồn Hữu Bình, hoặc họ muốn cửa khẩu nhỏ ở biển Cần Giờ sẽ thuộc quyền xét hỏi của đồn binh quản hạt, còn thuyền buôn ra vào thì đòi ta đặt quan thu thuế, hoặc họ đòi bồi thường đủ số tiền còn thiếu một trăm vạn đồng trước đây, hoặc họ chỉ trả lại ba tỉnh trong còn ba tỉnh ngoài thì không chịu trả... các yêu sách liệt kê trên đây thì giảm đi một nửa.
Hoặc họ đòi được hợp tác chặt cây khai thác rừng, hoặc họ yêu cầu đối xử nhân đạo không được đưa ra pháp luật trả thù các chức sắc trong sáu tỉnh đã cộng tác làm việc cho họ trong thời gian trước đây, hoặc họ đòi mỗi năm phải cấp cho họ bao nhiêu dân phu để làm việc mà trị giá cấp bằng tiền, hoặc họ muốn lấy mỏ vàng bạc trong sáu tỉnh hoặc họ không cần thông thương buôn bán trên cả nước mà chỉ đòi tiền chuộc mấy mươi triệu đồng, hoặc họ nói nay tạm giao quyền quản hạt lại cho ta, sau mười năm sẽ thương nghị quyết định lại, hoặc họ đòi sáu tỉnh từ Bắc chí Nam nửa trên thuộc về ta, nửa dưới cho đến biển thuộc về họ, hoặc trong tờ giao ước họ nói rõ là giao trả sáu tỉnh lại cho ta nhưng nếu ngày sau ta làm việc gì bạo loạn nơi họ cư trú thì ta cam chịu mất sáu tỉnh mà họ còn lấy thêm một hai phần đất ở Bắc kỳ nữa, ta không được cố chấp... Tất cả những điều kiện như thế xin phải xử phân như thế nào. Còn những chi tiết nhỏ nhặt trong vấn đề ở chung với họ cũng dễ giải quyết không cần phải nêu.
Về khoản thứ bảy, nếu họ đã biết cái thế của ta mà không chịu đem vấn đề thông thương ra trao đổi để chờ ngày sau thi hành quyệt kế thì việc thông thương cũng còn ở trong tay.
Nếu ba tỉnh ngoài khó bề thương thảo xin lại được còn ba tỉnh trong thì họ đòi bồi thường quá nặng mới cho chuộc thì liệu có chuộc được chăng? Hay ta trở về tay không mà không chịu hoàn thành việc hòa ước, hoặc sẽ cầu viện binh khác trợ giúp? Hoặc họ đòi lại những sở đất ở sáu tỉnh mà trước đây họ đã sung công và đem bán cho người mua ta phải bồi thường lại cho người mua, hoặc dân của họ đã đem các phương tiện sản xuất kinh doanh ở hành nghề các nơi hay họ đòi chuyên quản các nơi ấy để cho dân họ làm ăn sinh sống hoặc nếu dân họ rút về thì đòi ta bồi thường các chi phí cho họ.
Còn về thông thương buôn bán thì họ yêu cầu bất luận cửa khẩu nào thuyền họ có thể vào hoặc vịnh vũng nào thuyền họ có thể đậu thì mỗi nơi ấy phải hoàn toàn nhượng hẳn cho họ một khoảnh đủ để người của họ cư trú cho tiện, hoặc muốn người của họ đều được tự do đặt hàng hóa buôn bán trong nội địa nước ta, hoặc họ muốn lập đại sứ ở Kinh đô để tiện giải quyết các việc thông thương giữa ta và họ, hoặc họ muốn giảm một nửa số tiền thuế hàng hóa xuất nhập khẩu của thuyền họ, hoặc họ đòi ở nơi lãnh sự của họ cư trú đều được lập một pháo đài có binh lính phòng thủ...
Các khoản trên đây khó có thể thỏa mãn cho họ được nhưng phải giải quyết thế nào? Còn ngoài ra những quy tắc về thông thương các nước đều có cả, đều quan hệ làm lợi cho đôi bên, lâm thời có thế châm chước tăng giảm không làm hại gì đến đại sự, không cần phải quyết định trước, đã có sẵn điều lệ của các nước có thể tham khảo mà quyết định.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #194 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:29:21 PM » |
|
Về khoản thứ tám, nếu trong khi thương nghị giữa ta và họ có sự lý gì cần thiết khó giải quyết mà họ cứ đòi ta làm qua loa cho xong, còn ta thì trong lòng dùng dằng không quyết định muốn nhờ một nước bạn đứng giữa dàn xếp, hoặc nhờ Viện Pháp Luật bên ấy giải đoán (Hai người này cũng khó mời đến). Như vậy tất cả mọi chi phí cung đốn đều giao ta tự đài thọ. Vậy sở phí bao nhiêu thì chấp nhận được? Giả sử họ thông hiểu công lý trên thế giới sâu hơn ta, sự châm chước của họ lần này là phát xuất từ sự công bình chứ không thiên lệch bảo vệ cho riêng họ thì tất cả những lần sau có phải dàn xếp cũng theo như lần này, theo công lý mà thảo luận không thiên lệch bên nọ bên kia. Bởi họ sợ nước bạn chê cười là họ bảo vệ nhược điểm tự vị rồi sẽ chẳng cần mất thì giờ bàn đến sự công bằng nữa.
Nếu được vậy thì những điều thảo nghị với nhau cũng hợp công lý không sai lệch lắm. Nhưng vì ta quá bảo vệ nhược điểm của mình không thấy rõ lý, nghi họ lấy nhiều nên cố chấp không chịu nhận nên mới mời người dàn xếp uổng phí vô ích. Nếu gặp những tình trạng sự việc như vậy Triều đình nên tính liệu như thế nào?
Về khoản thứ chín, trong khi bí mật tìm đường lối, nếu gặp người háo lợi, chưa chi đã đòi hỏi lễ mễ trước như Lăng Xu Bi năm xưa vậy. Có điều là hắn ta đã hứa chắc chắn xong việc nhưng đòi sở phí quá nặng; nếu thành sự thì hắn lấy đủ số còn bất thành hắn cũng xin một hai phần mười công hắn ngược xuôi bôn tẩu giao dịch khoản đãi, nhưng hắn đòi hỏi phải giao trước cho hắn một số là bao nhiêu hắn mới chịu bắt tay làm việc. Nếu như thế thì làm sao? Nếu nhờ nước bạn như nước Anh chẳng hạn và hứa nếu sự việc thành công. Nhưng họ và ta bên nào cũng có nửa lợi nửa hại mới xong việc được. Nếu không thì người Anh cũng không thể lấy quyền gì cưỡng ép họ được. Hơn nữa chịu hay không chịu do ở họ, người Anh chỉ đem lý ra phân giải chứ không dám sử dụng thế lực mà can thiệp điều gì. Sau khi thành công, người Anh muốn lập ước thông thương để gọi là được trả công mà trong sự lập ước họ cũng chiếm một hai điều lợi. Như thế thì làm sao?
Về khoan thứ mười, họ đã muốn đổi đất để được thông thương, hai bên theo công lý nghị định đều đã nhượng quyền phục lý. Có điều là số tiền bồi thường họ đòi trả đủ một lần để giải quyết tình trạng cấp bách của họ, hoặc họ cố ý nâng giá cao như vậy, bởi họ nghĩ rằng có thể ta không thanh toán nổi mà xin rút lui điều ước thì cũng là may cho họ. Ta đoán chắc rằng họ có ý đi nước đôi như vậy, nhưng tạm thời cân nhắc sự lợi hại thì chịu bồi thường đủ số mới có lợi cho ta. Nếu thế thì ta phải quyết định ký trước để cho họ khỏi đổi ý. Lần sau đó ta có thể vay tiền trong hội buôn của họ hoặc trong hội buôn của người Anh mà bồi thường đủ số, trừ số tiền lời tiền vốn trả hàng năm và kỳ hạn trả, các hội buôn của họ nếu muốn thông thương hoặc muốn mua khoáng sản, cây gỗ, hoặc muốn lập đường xe lửa, máy điện, những việc đó ta và người đều có lợi, trong đó ta sẽ dùng tiền lời hàng năm khấu trừ dần cho họ. Nếu vay nợ như vậy thì cần phải tính toán làm sao?
Mười khoản trên đây sự lý phần nhiều đều quy về đường lối thứ nhất nhưng cũng có rải rác trong các đường lối thứ hai, thứ ba, thứ tư. Tất cả các khoản trên đây bọn họ đã từng đem thi hành ở các nước và hiện tại tưởng họ cũng mang sang thi thố ở nước ta. Các khoản này nếu thấu rõ việc đã qua trong thiên hạ mà đoán định từng khoản một, giảm cao cho được thấp khiến họ và ta đều được cân bằng, mà sau này có thương nghị lại cũng không ra ngoài khuôn khổ đó, như thế là ngàn lần khó vạn lần khó. Sở dĩ khó là vì sự thể ấy đều có hai mặt không sợ hở tý nào mà quan hệ rất lớn, không phải như việc làm của người phán đoán việc tù tội mà cứ theo luật định tội danh. Vì thế mà các thầy kiện phương Tây cho là việc khó nhất trong các việc khó trong thiên hạ. Nếu chỉ theo cái sở kiến có một góc của mình mà không dùng cái cơ mà khắp thiên hạ ngày nay đều đem trí thuật ra giá ngự, cái lý mạnh yếu co duỗi thì chỉ được người ta định sao mình chịu vậy. Thế nhưng nếu chỉ là mình với mình bàn bạc việc phải quấy để đính chính cái công tội thì còn có thể được. Còn nếu hợp cả thiên hạ lại với mình thì e rằng chỉ biết người ta nói sao nghe vậy mà thôi. Theo ý kiến của tôi suy nghĩ một cách cạn cợt về sự nặng nhẹ hoãn gấp thì việc thông thương là nhẹ mà sáu tỉnh là nặng, đem một điều “Doãn hành” là nặng mà sáu tỉnh là nhẹ. Còn như việc phải làm gấp là giao thông để tìm người giúp để lập kế liên hoành, còn việc nghị hòa là hoãn. Bởi vì sáu tỉnh đã ở trong ý họ là sẽ gồm cả toàn lãnh thổ Cao Miên và các vùng đất khác phía sau núi. Nếu mất sáu tỉnh là mất tất cả cho nên là nặng, trả lại rất khó. Nếu thông thương thì đối với ta về lâu về dài có thể ngồi mà tính kế. Đó là cái thế nhất định như vậy.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #195 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:29:57 PM » |
|
Nay ta nếu thấy rốt cuộc cũng không tránh khỏi mà đem đổi lấy cái khó được thì có thể thấy đại khái nặng, nhẹ là thế nào. Còn như sáu tỉnh, nếu đem chủ quyền cả nước mà so sánh với sáu tỉnh thì sự nặng nhẹ không phải bàn nữa. Người xưa có nói: Nếu pháp luật còn thì một họ Tả cũng có thể cai trị được. Nếu bỏ luật pháp thì mười họ Tả cũng chẳng làm gì được. Nếu thế không thể đối lấy mà đem về cho mình được thì phải chờ ngày sau cũng có thể dùng sức mà tranh lại, còn sáu tỉnh thì đất đai nhân dân vẫn còn đó, họ không thể nào thu lấy mà mang về Tây được.
Nếu ta không thể thoát khỏi điều khoản “Doãn hành” thì tựa hồ họ nắm quyền bính nước ta. Như vậy là chận hết rất nhiều ngõ ngách đường lối của ta sau này. Giả sử sau này ta có xảy ra biến cố gì mà muốn làm cái kế như Phùng Đình nhượng Thượng Đảng cho Triệu để bảo tồn những gì còn lại cũng hết đường có thể thi thố được, mà giao thông để tìm người giúp cũng trở ngại khó làm, muốn lập minh ước với các nước để cầu bảo hộ cho đất nước được yên vững như Bồ Đào Nha với nước Anh thì cũng khó mà vượt qua khỏi họ để thương nghị với nước khác. Nếu có thể thoát khỏi điều này mà không giảm mất quyền tự chủ thong thả giao thiệp rộng rãi mà lập thế liên hoành thì đường thịnh lợi sẽ tiến xa. Sáu tỉnh này cũng giống như ngọc ngựa của người nước Tấn, mà rồi cái lợi của phía Tây cũng sẽ đến cho ta. Trong bài Lục lợi từ trước đây tôi đã nói: Họ khai thác cái hoang vu, ta được hưởng cái thành tựu, họ làm việc khó, ta sử dụng cái dễ, cũng như các nước ở Tây Châu, cuối cùng vật sẽ về với chủ, chắc chắn họ không thể nào làm chủ mãi được.
Còn sự giàu mạnh của nước ta thì nhất định lấy sự giao thông làm cơ sở mà tất cả các quyền lợi lâu dài cũng từ trên đó mà ra và đều phải thoát khỏi điều “Doãn hành” mới được. Cho nên tôi nói sáu tỉnh nhẹ là vậy. Nếu phá bỏ được điều “Doãn hành” thì mọi việc sau đều dễ giải quyết không mất công trù liệu kế hoạch nhiều. Nhưng muốn làm việc giao thông thì phải nhân lúc họ mới suy vi mới có thể thong dong kết bạn khắp thiên hạ để lập thành thế chân vạc thì ta mới ngồi yên để tính việc giàu mạnh cho đất nước. Vậy chuyến đi này nếu thế không thể thu hồi sáu tỉnh thì hãy cố hết sức thoát cho được điều khoản “Doãn hành” thì cũng không đến nỗi đi không lại cũng về không. Nếu được điều này rồi sau nếu muốn ra sức lấy lại gấp (Nếu ta chắc chắn đủ sức lấy thì hãy hoãn việc ký kết hòa ước) mà còn có thể tìm người hợp tác. Còn như sợ sự việc bất thành lại sinh ra nhiều trở ngại thì hãy ẩn nhẫn để chờ mưu tính sau mà phải sớm nhân chuyến đi này giao thông rộng rãi các nước. Nếu thành công được việc này thì cũng có thể che lấp được lỗi lầm trước đây mà mở ra mối lợi lâu dài về sau. Thiên hạ thấy thế biết ta có dấu hiệu sắp hưng thịnh như thế nào. Vấn đề này cũng rất trọng đại và khẩn cấp không thể bỏ qua.
Đường lối thứ hai là tìm người giúp đỡ để dùng sức tranh lại. Như đến nước họ rồi nhưng biết chắc công việc của họ còn kéo dài mà lòng tham của họ đối với sáu tỉnh không thể rút ra được nên không đếm xỉa gì đến lý lẽ cả thì ta cũng chẳng kèo nài gì được với họ. Bấy giờ hãy lấy cớ xin đi thăm nước Y và đến xem phong cảnh nước Anh. Đến nước Y rồi cũng phải thăm dò đường lối. Như tôi đã trình bày đầy đủ ở điều trên. Nghĩa là nếu thấy có ngõ ngách thì vào ngay bí mật bày tỏ ý mình cho đằng ấy. Nếu đằng ấy cho là được hoặc đằng ấy tự túc lo liệu công việc hoặc đằng ấy bí mật thông đồng với Nga Phổ để cầu giúp (Nhưng phải hỏi đằng ấy xem sau khi thành công phải trả ơn như thế nào, phải minh ước trước), dựa vào đằng ấy mà tính mưu kế. Nếu đằng ấy có tình cảm với người Anh thì cố cầu đằng ấy ngỏ lời giùm ta với người Anh mà đằng ấy với ta cùng yêu cầu người Anh đối với vấn đề này xin hãy đứng ngoài cuộc. Tuy Anh và Pháp chưa rời bỏ nhau nhưng khoản này thì Anh tự nói không giúp Pháp để nói lên cái lý vì sao Anh không làm, để tỏ rằng Anh không dám dính líu vào việc ấy, mà Pháp cũng khó trách được Anh. Nếu rốt cuộc sáu tỉnh thuộc về tay người Pháp thì đó cũng không phải là điều người Anh mong, mà thuộc về Nga Phổ thì người Anh cũng chẳng thích. Nếu tình thế có thể đem về lại cho nước ta mà Pháp, Phổ, Nga, Y đều không nhúng tay được vào chỗ nào thì sau này Anh dùng cái ưu thế ở phương Đông cũng dễ nhờ ta mà được lợi. Như vậy mới hợp với cái thế của binh gia. Cho nên nếu ta dùng kế được đến thế thì người Anh sẽ đứng ngoài, bấy giờ ta mới dám dùng sức mà tranh. Nếu được như vậy mà nước Anh định mưu cùng với ta, hoặc yêu cầu ta hãy lập minh ước trước, hoặc xin ta một vài chỗ ở Đồ Sơn, hoặc yêu cầu đặt đại sứ tại Kinh, hoặc yêu cầu chiếu tính chi phí chiến tranh bởi vì khi người phương Tây đánh nhau tử thương sẽ nhiều chi phí cũng nặng, cho nên ta chiếu tính bồi hoàn chi phí ấy cũng không phải việc dễ, hoặc yêu cầu trả đủ tiền nợ trước một trăm vạn đồng...
Tất cả những điều như vậy ta phải nghị bàn thế nào cho thỏa đáng? Còn về điều ước thông thương thì người Ý không thể đòi hỏi nhiều như người Pháp. Bấy giờ ta cứ chiếu theo quy ước thông thường trên thế giới cũng chẳng ngại gì, cũng không có gì rắc rối. Mà tôi đã suy nghĩ kỹ sự thế ấy rồi thì thế lực người Y không lớn, dầu cho có đuổi được người Pháp thì cũng sợ sau khi việc nước họ yên xong họ sẽ đem quân tinh nhuệ đến giành lại, ta cũng khó ngồi yên được, mà người Y cũng rất có thể nửa chừng rụt tay lại thì làm sao? Cho nên phải có người Anh giao thiệp hậu với ta mới được. Bấy giờ người Anh cũng kỵ việc Pháp trở lại sáu tỉnh cho nên mượn cái tình giao hảo với ta mà cản trở bên trong chỉ khiến người Pháp nhẫn nhịn chịu thông thương, sợ người Anh giận mà trở mặt giúp ta, như thế thì chiến tranh không xảy ra ở phương Tây mà tai họa lại đến ngay trong nước họ, ung nhọt đã mọc lên trong ruột thì khó lòng đem sức ra kình chống với người Anh được. Như vậy họ sẽ rụt tay mà ta có thể bảo đảm không việc gì. Nếu như ta sang nước Y thì không chỉ riêng kế ấy bất thành mà trái lại Ý còn đòi ta bồi hoàn thanh toán khoản trước. Nếu ta không thanh toán Ý sẽ lấy cớ sinh sự thì ta sẽ tính sao? Điều này không thể lo trước thế nhưng sự xử phân đó đối với Ý khi chưa có hiềm khích nhất định thì cũng dễ giải tiêu. Nếu không thế lẽ nào Ý lại chịu thôi, sớm muộn Ý cũng sẽ trở lại cố ý gây sự thì lại sinh nhiều chuyện. Như trong tờ bẩm trước tôi tôi đã nói rằng ta rồi sẽ không khỏi bị thất kế ngồi đó mà chờ cho sự việc xảy ra.
Đường lối thứ ba cầu người Anh làm chiết trung. Đường lối thứ tư cầu giao thông để giữ cái gì chưa mất. Ý nghĩa của hai đường lối này cũng phù hợp với hai điều trên và cũng thấy rải rác trong các tờ bẩm trước, nay không phải thuật lại nữa. Duy có điều là đường lối giao thông thì ta và người đều phải thuận tình để làm sao cho đôi bên cùng có lợi chứ không phải vì một bên đang thời cùng thế bức mà ép người ta. Cho nên ta và người đều không làm hại nhau, dễ dàng trong việc quyền nghi giao kết, nếu có một khoản nào ta không thích nghi thì người cũng không thể đem ép nhau. Nhưng nay nếu người Anh muốn chiết trung cho ta và hứa chắc sẽ thành công nhưng yêu cầu ta bí mật cho họ một chỗ đất ở Bắc kỳ, sau khi xong việc lâu họ mới đến lấy. Bấy giờ ta lấy cớ là tình đối với nước bạn mà nhượng hẳn cho họ, như xưa kia Bồ Đào Nha cầu Anh bảo hộ cũng dùng kế này. Vậy nếu nay người Anh nêu lên yêu cầu ta thì phải như thế nào? Nếu Triều đình cho rằng việc giao thiệp hậu với người Anh là phải thì tôi xin có ý kiến như sau: Viên tổng đốc người Anh ở Ấn Độ chỉ huy tất cả lực lượng Anh ở phương Đông, nếu được y điều đình với ta mà thành công được thì đó cũng là ý muốn tha thiết của y. Nếu y và ta thương lượng với nhau, những điều gì nên làm y sẽ tâu trước về Triều đình của y thì chắc chắn Triều đình của y sẽ chấp nhận việc thỉnh cầu đó. Nay nếu ta không thể đi thuyền của người Pháp mà phải đi thuyền nhật trình thì ta có thể khi đến Mạnh Gia Lập mượn cớ tham quan phong cảnh đến gặp viên ấy đem hết đầu đuôi việc ta muốn giao thông với Anh nói rõ, chắc chắn y sẽ vui mừng lắm. Lại nói với y rằng: Chuyến này sang Pháp xử phân công việc như vậy, xem y nói sao.
Nếu y nói nước Anh có thể làm trung gian cho, hoặc nói có thể đuổi được người Pháp thì bí mật nhờ y vạch định kế hoạch xem y tính kế như thế nào. Nếu y nói việc này phải giao thiệp với nước y mà thế chắc chắn tiến hành được thì xin y một mật thư giấu kín. Bấy giờ bên trong ta đã có bạn tốt ngầm giúp thì cứ vững tâm vững chí biện bác với người Pháp không chịu khuất phục, không chịu nhường bước mới dễ kết cuộc. Nếu việc không xong ta lại nhờ người Anh chủ trương cho thì cũng sẽ được toại ý. Tôi đã nghiên cứu tất cả sự thế và suy nghĩ hết sức như vậy, nếu người Pháp không chịu thu xếp, mà ta không có cách nào đối với họ nữa thì ta phải mời người Anh đến ăn chung với họ mới hả lòng ta, để người Anh trấn áp sự thao túng của người Pháp, không thế không được, không thể để cho người Pháp thủ lợi riêng trên đất nước ta. Lại nữa như khi ta định đi Tây thì cần phải có hai người thông ngôn để phòng lỡ khi trên đường đi có một người bị bệnh thì còn người kia thay thế. Nếu không sẽ lỡ việc của ta. Nếu Triều đình cho như vậy là phải thì xin định liệu trước để chuẩn bị công việc cho được hoàn chỉnh, như vậy mới yên tâm với công việc.
Tôi có mấy ý kiến như thế không biết có nên chăng, kính bẩm Cơ Mật Viện đại thần liệt vị đại nhân soi xét.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #196 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:32:19 PM » |
|
DI THẢO SỐ 44 Kế hoạch vay tiền để dùng vào việc binh* (21 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức 10-4-1871) Kính bẩm, Ngô Khởi nói: Đạo dùng binh trước phải làm cho dồi dào của cải, sau mới dùng sức. Triệu Thố nói: lúa thóc nhiều, của cải dư, đủ sức công thì thủ, đủ sức thủ thì làm cho kiên cố thêm. Sách Luận Ngữ nói: Dân có đủ ăn mới giữ được chữ tín. Lại nói: Phải làm cho giàu có rồi mới giáo dục được. Như thế đủ thấy người làm việc nước trước phải làm cho nước giàu, sau nước mới mạnh. Nước ta thời gian gần đây phải đánh Nam dẹp Bắc, của cải tích lũy đã cạn. Dân gian bị lụt lội hạn hán sâu rầy, làng xóm hư hao. Bên ngoài cướp biển hoành hành, đường buôn bán không thông. Bên trong sự cung đốn cho nhà nước ngày một gia tăng, lòng dân rời rạc. Tất cả đều do nghèo thiếu của cải gây nên. Tôi thấy các nước phương Tây, nhiều nước vay tiền các nhà buôn lớn để giải quyết việc cần gấp, sau đó sẽ từ từ hoàn lại. Nước càng lớn nợ càng nhiều. Thế nhưng chưa ai bảo như vậy là yếu hèn hay sai lầm kế sách. Tôi xin có ý kiến là hãy sai người đến các đại thương gia ở Hương Cảng vay tạm 8, 9 triệu quan (Tôi bảo đảm chắc chắn có thể vay được). Mỗi năm ta sẽ trả tiền lời cho họ, hoặc giao ước ta sẽ trả hàng hóa cho họ rồi tính giá khấu trừ (Họ đến nhận hay ta đem giao cũng được), hoặc cho họ thông thương một hai cửa khẩu lấy thuế khấu trừ, hoặc cho họ lấy gỗ một hai khu rừng (Về lợi ích lâu dài của việc này, trước đây tôi đã bẩm rõ trong bài Khai hoang từ) rồi hạn định mỗi năm trừ vào số tiền vốn là bao nhiêu hòa ước sẽ được lập theo luật phương Tây, sau đó xin quan Anh ký chứng để bảo đảm vĩnh viễn khỏi lo ngại. Khi ta đã được một món tiền lớn đem về sẽ nhất tề bắt tay làm việc. Có vốn lớn chắc chắn sẽ có lợi lớn. Đó là lẽ thường. Một mặt, trước hết sang Ma Ni Lai mua độ 4, 5 trăm con ngựa đã được luyện tập xong và mướn độ 100 người Ma Ni về tập luyện cho ta. Phong thổ khí hậu của họ cũng giống như ở nước ta. Vả lại giá ngựa ở đó cũng không đắt lắm. Những người giữ ngựa bên ấy nổi tiếng là những tay kỵ mã có tài. Dùng họ tập luyện cho ta chắc chắn ta sẽ tài giỏi. Việc ăn ở của họ cũng giống như ta nên việc nuôi dưỡng luyện tập không khó. Phải biết ngựa trận đối với nhà binh đắc lực vào bậc nhất. Hãy xem binh đội phương Tây bất luận đến đâu cũng đều kéo xe đem ngựa theo vì hết sức cần dùng đến nó. Ta đã tập được ngựa trận xong (Ngựa trận của họ rất giỏi và binh sĩ của họ rất thành thạo), tức cũng nhân chuyến đi này ta lại mua độ năm, sáu trăm súng mã pháo kiểu mới, độ 20 khẩu mẫu tử đại đồng pháo gồm đầy đủ thuốc súng và xe chở pháo. Bấy giờ ta dùng bộ binh và đại pháo đi giữa còn ngựa trận chia làm hai cánh hai bên. Từ đại lộ bằng phẳng cứ một mặt bắn vào đồn giặc. Đồn vỡ, giặc tan, bấy giờ dùng kỵ binh chia đường đuổi theo giết thì mới quét sạch được giặc. Ngựa trận có nhiều công dụng và cũng dễ thi thố, nhiều người biết không cần phải nói dông dài. Phàm việc binh chỉ nghe nói vụng mà nhanh chứ chưa nghe nói khéo mà chậm bao giờ. Nếu đánh chiếm nhanh, dù có tổn thất lớn nhưng cũng được lợi lớn còn hơn là kéo dài thời gian chiêu dụ để phải lo nuôi giặc, đề phòng giặc hay sao? Huống chi việc dùng ngựa trận không đến nỗi tốn kém nhiều. Hiện tại ta tạm dùng nó trong những việc cần gấp, mai sau dùng vào việc giao thông bằng ngựa, có công dụng cho quốc gia vô cùng. Thế có phải nhất cứ lưỡng lợi không? Một mặt dùng số tiền này mở thêm các quân khu, cấp bổng lộc cho sĩ quan binh lính để khuyên dụ lòng người. Khoản này tôi đã bẩm rõ ở điều nói về tu chỉnh võ bị trong bài Tế Cấp trước đây. Nay không phải nói nữa. Một mặt dùng số tiền này mua sắm những thứ nhu cầu khẩn thiết lúc đầu để chế tạo và sửa chữa các thứ đồ dùng như sửa chữa cơ khí, đúc súng, đúc đạn, chế thuốc nổ và các thứ binh khí. Các thứ khí cụ này ta đều mua đem về rồi tạo riêng một xưởng cơ khí, mướn người Anh người Pháp mỗi nghề một người dạy tập cho thợ ta chế tạo các đồ ứng dụng. Đã có người phương Tây hợp tác cùng ta thì không chỉ hiện thời ta có thể chế tạo được đồ dùng mà không ngoài năm, sáu năm sau thợ ta sẽ dần dần khéo tay. Đó cũng là nhất cử lưỡng tiện. Mấy năm trở lại đây, sở dĩ nước ta mỗi ngày một thêm nhiều nạn cướp biển là vì ở Trung Quốc hiện nay ngành mậu dịch mỗi ngày một thịnh. Họ đã tạo được nhiều tàu tuần dương chạy bằng máy và các tàu buôn, tàu nhà binh của phương Tây qua lại đường biển như mắc cửi. Người Pháp cũng tuần hành nghiêm ngặt suốt từ Bình Thuận đến Hà Tiên. Do đó thuyền phỉ khó bề phóng túng hoành hành ở hai mặt biển ấy được mà phải trốn sang tá túc nơi hải phận nước ta. Nay nếu ta mua được năm, sáu chiếc thuyền máy chắc chắn, mỗi thuyền có độ mười khẩu đại pháo lớn nhỏ. Rồi lại thuê người Anh người Pháp mỗi thuyền một người trông nom máy móc và bốn người tập bắn, hợp cùng lính của ta vừa đi tuần vừa tập luyện dàn thành chữ nhất đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam, gặp thuyền phỉ đều bắt hết đưa về xử trí còn thuyền thì sung công. Nếu giặc biển dồn tụ thành sào huyệt thì thuyền máy của ta hợp lại tiêu diệt, giặc sẽ tan vỡ, mất chỗ tụ tập khó có thể xâm nhập nội địa được. Giặc phía Bắc nước ta đã bị ngựa trâu phá diệt rồi, dân chúng được yên ổn làm ăn. Dân được nghỉ ngơi, quốc gia giảm bớt chi phí. Trên mặt biển giặc cướp đã biệt tích, đường thương mãi lưu thông, Nam Bắc đều lợi dụng. Tại Kinh thành việc chế tạo sửa chữa cơ khí được rèn luyện thành thạo, đồ dùng ngày một tinh xảo. Sau đó lại sai các tay thợ đã thành thạo phân chia đi dạy tập ở các tỉnh, một dạy thành mười. Thực hiện đầy đủ ba việc lớn nói trên tức bắt đầu mở ra con đường tân tiến tự cường rồi vậy. Mà muốn nhất tề cử hành ba việc lớn ấy chắc chắn phải có một số tiền lớn mới làm được. Nếu cứ dựa vào thuế khóa trong nước thì sự chi xuất có hạn, chỉ đủ cung ứng các chi dùng hàng ngày, làm sao nổi việc lớn? Nếu tạo được khí cụ để dùng, học tập được cái nghề công nghệ thì sẽ dùng nó mà khai thác các nguồn lợi trong nước, làm ra của cải vật dụng. Lúc bấy giờ quốc gia vô sự, sản xuất nhiều, ăn tiêu ít, không những đủ trả nợ mà còn thừa nữa. Nếu không thực hành gấp đường lối mà thiên hạ thường làm để cứu vãn tình hình khó khăn khẩn cấp thì dù cho Khổng Minh sống lại, Lưu Án tái sanh cũng phải bó tay mà thôi. Tôn Tử nói: Sức kém, tiền thiếu người ta sẽ thừa cái tệ ấy mà nổi dậy, lúc bấy giờ dù là người có trí cũng không thể cứu vãn được. Tôi thành thật thấy ta có thể làm được, nên mới đem cái đường lối mà người có trí trong thiên hạ đã làm ra bẩm rõ. Chỉ vì nó hợp với sự thế nước ta, nhưng chưa biết có được hay chăng. Xin kính bẩm. _____________________________________ *. Bản văn chữ Hán 634/1 tờ 59-65. Không ghi ngày tháng, nhưng bản dịch của Trần Hữu Huyên, trên Văn Đàn 30-11-1961 trang 12-13, ghi “21 tháng 2 năm Tự Đức 24”
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #197 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:36:57 PM » |
|
DI THẢO SỐ 45 Về việc gởi học sinh sang Singapore học sinh ngữ* (Ngày 25 tháng 2 năm Tự Đức 24, tức ngày 14 tháng 4 năm 1871). Kính bẩm, Tôi thiết nghĩ ngôn ngữ các nước trên thế giới đều khác nhau, nhưng sở dĩ có thể hợp nhau trao đổi làm việc, đều do con đường thông dịch làm cơ sở. Phàm chiến tranh hay minh ước, cho đến những sự giao tế bình thường, đều dựa vào lời người thông ngôn. Nếu dịch sai lầm, thì sai một ly đi xa ngàn dặm. Cho nên các nước trên thế giới đều xem ngành học ngôn ngữ này là quan trọng và cấp thiết. Nước ta hiện nay, việc học tiếng Anh tiếng Pháp rất là khẩn cấp. Còn như muốn khai thác vùng ven núi về phía Tây để thu về nguồn lợi ở phía Tây ấy, kế tiếp công nghiệp mở rộng khai thác miền Nam của liệt thánh Triều đình ta, thì cũng không thể không gấp rút học các thổ âm các dân tộc vùng phía sau núi. Nay theo thiển kiến của tôi, xin nên đưa tất cả học sinh của ta sang Hạ Châu (Hoặc trích để lại tại Bộ một vài người kha khá để dành sai phái công việc) tìm nơi có trường học tốt thuê nhà trọ thì việc học được nhiều tiện lợi. Bởi vì một là ở đó gạo cá thực phẩm rất rẻ, ít tốn kém. Hai là nước trong trẻo không khí trong sạch, ít bệnh tật nên mọi người đều khen đó là đất lành. Ba là nếu đột xuất Triều đình gởi thư gấp gọi về một số nào đó để sai phái công việc, chỉ vài ba tháng có thể về kịp. Bốn là nếu có người nào bị bệnh không khỏi, không thể tiếp tục học được nữa, hoặc có người nào có tư ý việc riêng buộc phải rút về thì có tàu là đi được ngay không phải chờ đợi mà hao tổn công quỹ. Năm là nơi đó gần nước ta, thư từ tin tức qua lại ăn ở thuận tiện, không đến nỗi buồn phiền mà sinh biếng trễ, việc học có thể thành công. Sáu là một nửa học sinh cho học tiếng Pháp, một nửa nữa học tiếng Anh, bình thường giao du thì nói tiếng Trảo Oa, tiếng Tàu, như vậy là học một mà biết được hai. Bảy là nếu người nào thông minh, ngôn ngữ chính của mình là học tiếng Pháp nhưng khi rảnh rang học thêm được tiếng Anh càng tốt. Đến khi mãn khóa có thể thi riêng môn Anh ngữ, nếu khá Triều đình sẽ có phần thưởng riêng, như thế ai nấy đều biết cố gắng, không uổng phí thì giờ học tập. Tám là nhiều người cùng học một trường, khi tật bệnh giúp nhau, phải quấy khuyên bảo nhau, để giúp ích cho nhau. Chín là trừ các chi phí về trường học và nhà trọ, tiền phí tổn đi về còn rẻ hơn đi Tây gấp mấy lần. Những tiện lợi ấy nếu đem so sánh với đi Tây thì trái hẳn. Nếu Triều đình thấy việc này có thể làm được, xin nói rõ cho học sinh biết trước mấy ngày để chuẩn bị. Trừ số tiền ăn do Triều đình cấp, còn tiền tiêu vặt linh tinh (Tôi biết chắc nhất định phải có khoản này) học sinh có thể xin cha mẹ, anh em để xài riêng. Những tiêu phí như vậy vụn vặt lắm, làm người không ai tránh khỏi, mà cũng không thể dự liệu trước là bao nhiêu, nhưng gom lại cũng thành một số tiền lớn, không thể không có được. Tất cả học sinh đi học nước ngoài dù học ở đâu cũng phải như vậy cả. Sự chi phí này không phải chỉ tiêu dùng khi đi đường mà kể cả những chi tiêu lặt vặt trong cuộc sống hằng ngày. Tôi có mấy ý kiến như thế, không biết có nên chăng. Nay kính bẩm. ___________________________________ *. Bản văn chữ Hán Hv 634/3 tờ 135-138. Không ghi ngày tháng, nhưng Nguyễn Lân sđd trang 43, có nói về việc học tiếng Anh, Pháp, tiếng Mường như ở đầu bài này và nói là bài viết ngày 25 tháng 2 năm Tự Đức 24.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #198 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:39:41 PM » |
|
DI THẢO SỐ 46 Việc dịch các văn kiện ngoại giao* (Ngày 10 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức ngày 29 tháng 4 năm 1871) Kính bẩm, Người lo việc cốt nhất phải chu đáo, thi hành mưu kế cũng phải sao cho được vạn toàn. Nếu lo việc hay lập mưu mà trong lòng còn một điểm nào bỏ cũng không xong làm cũng chẳng được, thế là tính toán chưa sạch nước. Nếu lần này đi Tây, tôi đã thưa bẩm rằng tất cả những gì có thể cải chính những chỗ thiếu sót trước đây và khai thông con đường lợi hại cho mai sau đều quan hệ ở chuyến đi này cả. Nay tôi thiết nghĩ trong lời văn như quốc thư, văn bằng hoặc dự liệu đến bên ấy tìm được đường lối gì mà phải chép trước thành văn bản để đề đạt ý kiến của ta, những văn kiện ấy đều phải dịch ra tiếng Tây nghĩa lý đầy đủ, lời văn khéo léo, có thể cảm động được người đọc người nghe, đó là điều rất khó. Như Lục Chí đời Đường viết bài chiếu mà làm cho người xem cảm kích phấn khởi vậy. Cho nên sự lý chỉ có một, thế mà có người viết thì ý tứ nhạt nhẽo đọc lên phát chán. Nhưng nếu có người giỏi viết văn viết ra thì tinh thần bay bổng văn lý tuyệt vời, khiến người thưởng thức chẳng rời tay mà có thể lãnh hội đại khái cái ý vị thâm trầm. Dù cho sự lý cứng cỏi thẳng thắn mà lời văn uyển chuyển khéo léo cũng có thể che đậy được không làm cho người giận, có nói cũng không có tội. Những loại văn từ tuyệt diệu như vậy Đông Tây không nước nào không chuyên chuộng. Phương Tây người ta còn thiết lập một ngành học chuyên về loại này. Nay Nguyễn Hoằng nói: Nếu dịch đúng sự thật lời ý không sai thì dám vâng mệnh làm được. Còn muốn văn từ hay ho thì thật không dám. Tuy như người Tây trong trăm ngàn người còn khó có được một hai người huống chi y là người Nam mà học tiếng Tây. Các linh mục Tây đã ở phương Đông chỉ có một người (Tên là Đường tuổi đã già) hiện ở nhà dục anh ở Gia Định cũng khá giỏi. Ngoài ra như Giám mục Hòa cũng có thể gọi là giỏi. Huống chi y mà dám làm văn chương từ lịnh sao? Nếu chỉ cần cho đúng sự thật thì được. Tôi thiết nghĩ văn tự nước ta chỉ dùng cổ văn. Lời văn ý văn cũng đã biến đổi một ít, so với lời văn của người Tàu hiện nay cũng đã khác đi. Như năm trước, khi tôi ở Quảng Đông ba tháng 1 đã khám phá ra điều này. Cho nên năm trước Nguyễn Bá Nghi gởi văn kiện cho Tây soái, trong đó có một tập, Hà Ba Lý nhờ một thầy Tàu (Thầy này dạy Hà Ba Lý học chữ Hán) dịch ra. Ông ta chia một câu dài cắt ra làm đôi. Sau tôi đọc thấy mới bảo rằng: Theo ngữ ý của người Nam thì đây là một câu. Nếu chia làm hai thì đó là theo ngữ pháp hiện thời của người Tàu, không đúng với nghĩa lý cổ văn. Ông ta mới phục lời tôi nói. Ngày nay tại Kinh đô nước Pháp có bốn người Tàu (đều là người Bắc Kinh). Đó là những người được người Pháp mời về để dịch sách Tàu. Tôi gặp họ thấy họ là những người rất tầm thường. Người Pháp có một nhân viên rất thâm nho nay đã chết. Nếu các văn kiện bằng quốc âm của ta gởi đến thì sẽ do bọn người này dịch. Nếu không rõ ngữ ý nước ta mà có một hai câu nghĩa lý không rõ ràng thì không khỏi họ đổ lỗi cho ta. Còn như việc tìm được đường lối, có viên chức nào trợ giúp cho ta thì họ cũng phải hiểu rõ hết sự tình lai lịch của nước ta mấy năm nay với họ như thế nào, rồi sau mới liều lượng sự phải trái để tìm lý lẽ mà giúp ta. Việc này đâu phải trong một lúc đàm luận mà rõ hết được. Bởi vì họ cũng có công việc của họ khó có thể cùng ta đi hết những chỗ ngoắt ngoéo lâu dài được. Nếu ta cứ qua lại chàng ràng hoài không những làm phiền họ mà còn khiến người ta sinh nghi. Cho nên muốn họ hiểu hết sự thế dài lâu của ta, chắc chắn phải viết ra văn tự rõ ràng, (Viết ra một bản quốc ngữ rồi sai dịch ra chép thành hai bản giống nhau như một để đại sứ của ta tự tay dán một bản lưu chiếu còn một bản cho vào phong bì cẩn thận ngay trước mặt mà gởi đi. Nếu có nghi ngờ điều gì thì đem bản này về đối chiếu với bản quốc ngữ của ta sẽ thấy ngay) gởi cho họ thong thả thì giờ đọc đi đọc lại. Nếu họ có nghi ngờ điều gì thì sẽ hỏi lại ta. Như vậy mới rõ ràng không sai. Còn như các đại học sĩ của họ thương nghị những việc quan trọng cũng vậy. Nếu có việc gì khó nói, hoặc nói chưa hết, hoặc ý tứ hàm súc, hoặc muốn biện minh cho rõ những điều mình đã nói tại cuộc họp thì cũng phải viết ra văn bản, dịch gởi cho họ để họ tự hiểu, có hiệu lực hơn so với việc gặp mặt nói miệng. Những văn từ qua lại như vậy hết sức quan trọng mà rất quan hệ đến sự thế, không thể xem thường được. Người xưa một lời nói còn hơn mười vạn quân, một trang giấy còn hơn công việc của mười Bộ. Lối văn từ lịnh như vậy không thể truyền bằng miệng được, phải có một người Tây giúp việc cho mới có thể chu đáo ổn thỏa được. Tôi đối với việc nước đã lo lắng đến như thế, tức là đã coi công việc nước như chính công việc của mình, cho nên tất cả những điều bẩm thỉnh của tôi đều muốn sao cho được thành công. Nếu biết rõ có một chút gì có thể gây sai lầm thì không những không dám bẩm thỉnh mà nếu thế chẳng đặng đừng thì tôi cũng phải hết sức dùng kế thoát cho được. Nếu không thì tôi tội gì mà dẫn người để làm lầm lỡ cho mình? Nay việc đi Tây hãy còn nhiều ngày, xin Triều đình hoặc có thể cho Giám mục Hòa lên kinh nghiên cứu tình thế để bàn bạc trù tính thêm kế hoạch, may ra giám mục có đường lối riêng nào có thể giúp cho chuyến đi này chăng, hoặc giám mục có viên quan lớn nào là bạn tốt xin giúp cho ta trước, và giao trách nhiệm cho giám mục dịch giúp các văn thư. Tất cả những tư liệu gì liên quan về tình thế trong nước Pháp, xin tiến hành dịch trước (Dịch ra thành hai bản chép giống như một, sứ bộ lấy một bản đem đi, còn một bản lưu chiếu). Nếu giám mục thấy chuyến đi này quả thật có thể thừa cơ hội mà làm được việc và trình bày mối manh rõ ràng có thể nghe được thì xin Triều đình yêu cầy ngay giám mục cùng đi luôn để giúp đỡ (Nếu vậy có thể thay được một thông ngôn, đã bớt chi phí mà giúp đỡ được rất nhiều) cũng được. Nếu có nghi ngờ điều gì thì yêu cầu giám mục hãy hứa trước mặt rằng thủy chung công việc đều theo như ý của Bộ. Nếu giám mục hứa rõ thì không phải nghi ngờ gì nữa. Mà nếu khả nghi thì chính tôi phải nghi trước không phải đợi đến Triều đình. Nếu quả thật Triều đình hiểu cho rằng tôi tuy ở chung nhưng chí chẳng đồng thì Triều đình không còn nghi ngại gì nữa. Mà tôi cũng còn phải theo sát giám mục để thi hành kế phản gián nữa. Như binh pháp đã nói cái kế xen vào để lung lạc bên trong, chính ứng dụng vào lúc này. Hãy thử xem trong tờ bẩm năm ngoái tôi cũng đã nói rõ. Kế hoạch này nay không phải bẩm lại nữa. Hơn nữa đối với giám mục từ trước tới nay, tất cả những cuộc gặp gỡ với quan bố chánh Nghệ An, nhiều lần có đem vấn đề sáu tỉnh ra nói chuyện mà giám mục đều chỉ nói không có chỗ sơ hở nào có thể thừa cơ được. Thế mà nay lại xin viết thư cầu giúp thì trong lòng giám mục cũng đã cân nhắc như thế nào rồi. Về Giám mục Hậu cũng vậy. Trước đây giám mục đã bẩm với quan tỉnh rằng nếu Triều đình muốn làm việc lợi ích thì giám mục sẽ xin hết sức cầu giúp, còn vấn đề sáu tỉnh thì không dám. Thế mà nay giám mục lại đồng quan điểm với Giám mục Hòa như thế là có thể tìm ra đường lối giải quyết cho vấn đề sáu tỉnh. Có điều là cần phải giáp mặt bàn hỏi giám mục thì mới rõ hết được (Giám mục đã ở bên nước hai năm mới về và giao du rất rộng, có thể giám mục thấy được cơ hội tốt để hành động, không phải như Giám mục Bình chỉ biết việc đạo giáo ngoài ra chẳng biết việc gì khác). Hoặc nếu Triều đình không muốn giám mục đến, và việc đi Tây hãy còn thư thả thì xin cho tôi trở về gấp. Về một tháng cũng đủ để giáp mặt thương lượng với giám mục. Và nếu thấy có mối manh thì xin quan tỉnh giáp mặt thương lượng rồi cùng với giám mục về Kinh cũng tốt. Tôi có mấy ý kiến như thế, không biết có nên chăng. Kính bẩm. (Nếu cho giám mục về Kinh thì khi đi xin cho tôi gởi một bức thư cho giám mục, kèm theo với công văn, để khuyên giám mục nên quyết định đi). ___________________________________ *. Bản văn chữ Hán Hv 634/4 tờ 143-150. Không ghi ngày tháng. Nhưng bản dịch của Trần Hữu Huyên, trên Văn Đàn ngày 17-1-1963, trang 46-47, có ghi là “10 tháng 3 năm Tự Đức 24”. 1. Bản dịch của Văn Đàn ngày 17-1-1963, dựa vào bản văn chữ Hán khác nói “ba năm” (tam niên).
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6719
|
 |
« Trả lời #199 vào lúc: 20 Tháng Một, 2011, 09:42:16 PM » |
|
DI THẢO SỐ 47 Về việc cải cách phong tục* (Ngày 10 tháng 3 năm Tự Đức 24, tức 29-4-1871) NƯỚC NHÀ KHÔNG NÊN KHINH SUẤT ĐIỀU NHỎ Bẩm, tôi trộm nghe: Triều đình làm việc tươm tất đầy đủ. Lại nói “muôn điều mục đều trưng lên”. Nói “mục” tức là chỉ điều nhỏ (như là lưới, “cương” là cái diềng, mục là từng khoảng trong mặt lưới). Quan chánh đời Đường, Ngu nói đến thuật muông chim. Thầy Mạnh Tử nói đến Vương đạo mà trù đến việc nuôi heo, gà; Quản Trọng làm tướng nước Tề, có đặt nữ thương. Bính Cát tướng nhà Hán mà hỏi đến trâu, thỏ; Châu Lễ, vườn nào không trồng cây thì bị phạt; Nhà Tần, ai bỏ tro ngoài đường thì bị tội... Xem đó thì biết rằng làm việc quốc gia không nên khinh suất những việc nhỏ. Việc Trung Quốc kể trên, còn là sơ lược. Đến như phương Tây thì càng tương tế hơn, như: tập lội có trường, lấy phân có phép, đổ rác có xe, quét đường có phu; phàm việc thường hành trong dân gian, không có việc gì là không đặt chức để coi sóc việc ấy. Thành muôn việc đều theo thứ lớp tiến hành. Vì công việc dầu nhỏ mà khắp nơi đều có, chứa lại thành việc lớn. VIỆC NHỎ MÀ CẦN THIẾT VỚI NHÂN SINH Tạo hóa sinh vật từ cái lớn không có bờ bến, cho đến cái nhỏ không nhìn thấy được trời vẫn sinh thành và chiếu cố đến cả. Tức như các đảo san hô ngoài biển, hợp lại rộng đến đôi ba ngàn dặm, có người và vật sống trên đảo ấy, mà nguyên chất đảo ấy là do xác trùng san hô tý tý chất chứa keo dính lại mà thành. Trên mặt đất về tính phì nhiêu ở trên, đều do cứt trùn cùng lá mục... chứa chất lâu đời, động trong núi, do xác cá, xác trùng nhưng kết lại mà thành (nhà địa học đã xét nghiệm, đó là việc thiệt, không phải nói lý), thành món đại hữu dụng cho đời (như xác nghêu, hến, chế ra vôi cùng các vị thuốc kim thạch v.v...) đều từ những cái nhỏ đó cả, mà lại có cơ màu nhiệm sinh hóa mãi mãi không đời nào dứt. Tuy là vật nhỏ mà loài giống không tiêu diệt thành vật đại quan trên đời. Đấy là toàn đức của trời của tạo vật... Trong vật trời sinh, loài người khác hơn muôn vật, vì biết học theo đạo trời. Nếu chỉ có tánh tri giác vận động mà không có năng lực kinh dinh bố trí, thì sao gọi được là thiêng hơn loài vật? Bởi vậy đã có loài người, đầu tóc không thể để bùm xùm như đống cỏ, thì bịt khăn đội mũ; thân thể không lẽ để trần truồng, thì bận áo quần. Không thể sống trần trụi giữa đất trống không, thì làm ra nhà cửa; không thể ngồi nằm dưới đất được, thì sắm ra giường ghế; chân không đi trần được, thì sắm ra giày dép... Phàm những vật dụng người đời sắp đặt ra để hưởng dụng, khác với loài vật là tại chỗ ấy. ______________________________________ *. Bản dịch của X.T.T. đăng trong TIẾNG DÂN từ tháng 1-1940. Không thấy bản Hán văn ở đâu cả.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
|