Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: 122 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 - 19/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Năm, 2012, 05:48:09 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo  (Đọc 25176 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #10 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 04:45:33 PM »


Chúng ta biết là Phạm Phú Thứ đến Sài Gòn vào giữa tháng 3-1863 để thảo luận về việc Bonard và Palanca tới Huế để trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hòa ước 5-6-1862 và, sau đó, đã trở lại Sài Gòn ngày 1-6-1863 để cùng với phái bộ Phan Thanh Giản chờ tàu đi Pháp. Vậy có thể là Nguyễn Trường Tộ đã trao các văn bản nói trên cho Phạm Phú Thứ lúc ông này vào Sài Gòn theo phái bộ Phan Thanh Giản, để nhờ Phạm Phú Thứ chuyển cho Trần Tiễn Thành. Sở dĩ như thế có lẽ là vì Nguyễn Trường Tộ đã có quen với Phạm Phú Thứ lúc Phạm Phú Thứ tới Sài Gòn ký Hòa ước 5-6-1862, cũng như lúc Phạm Phú Thứ tới Sài Gòn để bàn bạc về lễ nghi trao đổi các văn kiện của Hòa ước đã được phê chuẩn, chứ Nguyễn Trường Tộ chưa hề biết Trần Tiễn Thành. Trong thời gian Phạm Phú Thứ ở Sài Gòn chờ tàu đi Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã có đi lại với Phạm Phú Thứ và đã nhờ linh mục Croc (cố Hòa) viết thư cho những người quen biết của mình ở Pháp giúp thông tin cho Phạm Phú Thứ1. Hơn nữa đầu bản Thiên hạ đại thế luận (trong Hv 189/1 tờ 1) có ghi: “Bản này được gởi cho thần Phạm Phú Thứ” (Giá tập ký dữ thần Phạm Phú Thứ).

Những văn bản này được gởi đi mà không nhận được hồi âm. Đầu năm 1864, Nguyễn Trường Tộ lại gởi cho Trần Tiễn Thành một văn bản nữa để thuyết phục Triều đình Huế là phải tạm hòa với Pháp và mở rộng bang giao. Văn bản này hiện không tìm thấy ở đâu cả, chúng ta chỉ biết là Nguyễn Trường Tộ nhắc tới văn bản này trong thư gởi cho Phan Thanh Giản tháng 3-18642.

Trong thời gian phái bộ Phan Thanh Giản ở Pháp về Sài Gòn chờ tàu để đi Huế (từ 18 đến 24 tháng 3-1864), Nguyễn Trường Tộ đã có nhiều cuộc tiếp xúc với Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản là phó sứ và bồi sứ, cũng như với chính Phan Thanh Giản là chánh sứ, thảo luận nhiều vấn đề liên quan đến việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trong di thảo số 4, Nguyễn Trường Tộ đã hầu như tóm lược lại các vấn đề được mọi người quan tâm. Sau đó, ông đã triển khai vấn đề một cách rộng rãi hơn trong một văn bản gọi là “Dụ tài tế cấp bẩm từ” hay “Lục lợi từ” (tháng 6-1864).

Theo ông Đào Duy Anh là người sử dụng nhiều tư liệu của gia đình Trần Tiễn Thành, thì “trong mùa đông năm 1865, Nguyễn Trường Tộ lại gởi cho Trần Tiễn Thành ba văn thư và cho Phạm Phú Thứ hai văn thư. Trong các văn thư gởi Thượng thư Bộ Binh, văn thư thứ nhất nói về việc mua vũ khí, văn thư thứ hai nói về việc gởi học sinh ra nước ngoài, và văn thứ ba, văn thư quan trọng hơn cả, lập lại các vấn đề đã được đề cập trong các văn bản của năm 1863, như việc khai thác các tiềm năng của đất nước và việc giao thiệp với các nước châu Âu…3.

Hai văn bản gởi cho Phạm Phú Thứ, thì hiện nay chúng ta không biết là nội dung như thế nào. Còn ba văn bản gởi cho Trần Tiễn Thành, thì có thể là bài góp ý về việc mua và đóng thuyền máy (Di thảo số 6), bài góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy (Di thảo số 7) và văn bản mà ông Đào Duy Anh nói rất quan trọng, có lẽ là bài Khai hoang từ, tháng 2 năm Tự Đức 18 - 18654.

Như thế là từ đầu năm 1861 cho tới đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ, từ Sài Gòn, đã gởi cho Triều đình Huế 11 văn bản:

- Bàn về việc hòa (Hòa từ), gởi Nguyễn Bá Nghi thượng bán 1861 (có thể là bài đăng trong NAM PHONG số 100).

- Thiên hạ phân hợp đại thế luận (Bài Hòa từ được sửa chữa lại) Di thảo số 1.

- Tế cấp luận, tháng 3-4 năm 1863 (hiện chưa tìm thấy đâu cả).

- Giáo môn luận, 26-3-1863. Di thảo số 2.

- Trần tình, 7-5-1863. Di thảo số 3.

- Thư gởi Trần Tiễn Thành, đầu năm 1864 (hiện chưa tìm thấy ở đâu cả).

- Kế hoạch duy trì hòa ước mới, tháng 3-1864. Di thảo số 4.

- Dụ tài tế cấp bẩm từ hay Lục lợi từ, tháng 6-1864. Di thảo số 5.

- Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy, cuối 1864. Di thảo số 6.

- Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy. Tháng 2-1865, di thảo số 7.

- Khai hoang từ, tháng 2-1866, di thảo số 8.

Tất cả những văn bản này gởi đi mà không được phúc đáp. Nguyễn Trường Tộ vẫn chờ đợi một cách nhẫn nhục.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 51.
2. Xem di thảo số 4.
3. Xem Đào Duy Anh, tlđd.
4. Xem di thảo số 8.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #11 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 04:47:56 PM »


3. XÂY CẤT TU VIỆN DÒNG THÁNH PHAOLÔ Ở SÀI GÒN

Trong lúc chờ đợi, ở Sài Gòn, sau khi thôi làm phiên dịch cho Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã giúp xây cất tu viện Dòng thánh Phaolô, số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay1.

Công cuộc xây dựng được bắt đầu tháng 9-1862 và hoàn tất ngày 18-7-1864.

Theo ký sự của Nữ tu Benjamin, người phụ trách tu viện Thánh Phaolô ở Sài Gòn lúc bấy giờ, cũng như một bức thư của linh mục Le Mée, thừa sai người Pháp viết ngày 10-5-1876, thì công việc xây cất được giao cho “Thầy học” tên là Lân và nhờ các thư từ của Giám mục Gauthier, chúng ta biết chắc chắn rằng: “Thầy học” tên Lân, nói trên đây, chính là Nguyễn Trường Tộ2.

Ký sự của Dòng thánh Phaolô Sài Gòn viết: “Nữ tu phụ trách bàn tính công việc xây cất với Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc, các vị này đồng ý là khi trở về Bắc Kỳ sẽ để Thầy học ở lại điều khiển các công tác. Nhà dòng liền trao đồ án tu viện và nhà nguyện cho Kiến trúc sư trẻ tuổi, nhưng ông hăng hái quá độ, cứ làm theo nghệ thuật của mình chứ không chịu xem túi tiền của chúng tôi: ở nhà nguyện thay vì làm một cái vòm đơn sơ như vẽ trong đồ án, ông lại làm thêm cột; các trang trí, các bức họa đều do ông làm; cái tháp chuông cũng vậy, mặc dầu chúng tôi định hoãn việc làm tháp chuông, vì chi phí đã lên cao khá nhiều.

“Bên tu viện, ông lại trang trí thêm cho đẹp mắt và, dầu nói thế nào, ông cũng không chịu làm một cái kiểu đơn sơ như vẽ trong đồ án.

“Ông là một giáo hữu Bắc kỳ, không kể cái tính kiên quyết theo ý tưởng của mình, ông lại rất thông minh, linh hoạt và vô vị lợi đến mức tuyệt đối, vì ông không nhận một đồng lương nào, chỉ ăn cơm không và tiêu vặt chút đỉnh. Không có ông, chúng tôi không bao giờ có thể xây dựng được nào tu viện, nào nguyện đường, bởi vì thợ đã không quen việc, lại không có ai chỉ huy, đến nỗi chính phủ cũng không xây cất được tòa nhà nào. Chúng tôi sẽ đời đời ghi ơn người chủng sinh (sic) tận tụy ấy, cũng như Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc, những vị đại ân nhân của chúng tôi ở xứ Nam kỳ, sau Chúa quan phòng.

“Nhà nguyện được đổ nền vào tròng 9-1862, mấy tuần sau đến lượt tu viện và nhà mồ côi. Nhờ Thầy học, công tác tiến hành rất mau chóng, đến ngày 18 tháng 7 năm 1864, chúng tôi đã có thể đến ở nhà đó với 150 em mồ côi.


Ngày 10 tháng 8 tiếp đó, Đức Giám mục Lefebvre chủ tọa lễ làm phép nhà nguyện. Du khách ngược dòng sông đến Sài Gòn, từ đàng xa, đã phải chú ý đến ngọn tháp nhọn với đường nét thanh tú nổi lên trên nhà nguyện của tu viện3.

Linh mục Le Mée, thừa sai Paris, trong một bức thư đăng trên tập san Missions Catholiques 1876, nói về công việc của Dòng Thánh Phaolô ở Sài Gòn và việc xây cất cơ sở của dòng như sau:

“Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đã đem theo một nho sĩ Bắc kỳ, tên là Lân, với trí thông minh hiếm có. Được gợi ý và được thúc đẩy bởi sự nhiệt tình và tận tụy của giám mục mình, nho sĩ Bắc kỳ này, vì tình yêu Thiên Chúa, đã nhận đứng ra đốc suất công việc. Trước kia, ông có ở Hong Kong ít lâu và trong thời gian ngắn ngủi tại thuộc địa này của người Anh, ông đã thấy được cách thức và thể loại kiến trúc của châu Âu. Thời đó ở Sài Gòn, chưa có một công trình nào làm kiểu mẫu. Với đề án của tu viện và nhà nguyện do Nữ tu Benjamin (Bề trên) cung cấp, ông ta đã phác họa được một họa đồ phối cảnh chung và thực hiện công trình nhờ sự cộng tác của các công nhân người Việt Nam. Chính ông đã phải vẽ sơ đồ của tháp chuông và tự mình trông nom công việc một cách rất cẩn thận; chính ông đã hoàn thành nhiều phần khác của công trình. Mỗi ngày người ta thấy ông có mặt ở công trường và để ý tới từng chi tiết. Phải thú nhận là nếu không có ông thì không thể thực hiện được một công trình như vậy vào một thời điểm mà ở Sài Gòn chưa có thợ cũng như chưa có nhà thầu (...).

“Hiện nay, Kiến trúc sư Lân của chúng ta đã từ trần mấy năm nay ở Bắc kỳ, tên của ông sẽ tồn tại mãi mãi ở viện mồ côi này của Sài Gòn và kỷ niệm của ông sẽ mãi mãi kết hợp với kỷ niệm của Giám mục Gauthier và linh mục Croc, là những ân nhân của cơ sở này.

“Ở đây không có gì sánh được với ngọn tháp duyên dáng và vươn cao này, tựa hồ như đem tới tận các tầng mây dấu hiệu cao cả của ơn Cứu rỗi của chúng ta. Đây là điều mà người ta trông thấy trước tiên sau khi rời Vũng Tàu để ngược dòng sông vô tận này...”.


Về công trình xây cất của Nguyễn Trường Tộ ở Sài Gòn, một chứng nhân của thời kỳ đó, trung úy hải quân Richard, trong bài viết về “Sài Gòn và phụ cận đầu năm 1866”, có nói như sau:

“Chúng ta hãy rời đan viện này4 và thích thú đi thăm tu viện xinh xắn của Dòng Thánh Phaolô, với một ngôi nhà nguyện nhỏ, nhưng tuyệt diệu, trên cao là một ngọn tháp duyên dáng nổi bật giữa tất cả vùng này, như báo tin cho chúng ta biết thủ đô của nước Pháp ở Á Đông. Một thánh giá trên chóp đỉnh của công trình này, và bên cạnh là lá cờ của nước Pháp như là bảo trợ cho dấu hiệu linh thiêng này của văn minh. Tu viện giống lối kiến trúc của nước Ý, pha lẫn những trang trí tự tiện của người Việt Nam.

“Nhà nguyện được xây theo kiểu Gô-tíc và được trang trí bằng những bức vẽ với một sự thẩm mỹ đáng nghi ngờ, mà mưa gió và thời gian sẽ xóa nhòa đi? Tất cả là do công của một linh mục (?) Việt Nam, người Bắc Kỳ, là kiến trúc sư bất đắc dĩ, không học hành gì, nhưng đã phác thảo và thực hiện đồ án của công trình này...”
5.

Như thế, cơ sở của Dòng Thánh Phaolô do Nguyễn Trường Tộ xây cất nổi lên giữa Sài Gòn năm 1864 như một công trình kiên cố có tầm cỡ. Ngoại trừ ngôi nhà hai tầng của Hãng hàng hải dân dụng6, ở chỗ Bến Nhà Rồng hiện nay, tất cả, ở Sài Gòn vào thời điểm đó, đều là bằng gỗ, tạm bợ: Dinh Toàn quyền Pháp chỉ được đặt viên đá đầu tiên tháng 3-1888 và nhà thờ Đức Bà chỉ được hoàn tất vào năm 1880.

Công trình xây cất của Nguyễn Trường Tộ, ở số 4 Tôn Đức Thắng hiện nay, trong quá trình lịch sử, nhất là sau trận bom của Đồng Minh năm 1945 làm sập hầu như hoàn toàn ngôi nhà nguyện cổ kính, đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần. Nhưng nhìn từ bên ngoài nếu so sánh giữa bức ảnh chụp năm 1876 trên Missions Catholiques năm 1876 trang 493, với hiện trạng của hôm nay, chúng ta thấy là, tuy có thay đổi, nhưng quy mô cũ vẫn còn y nguyên và công trình xây cất này tương đối đồ sộ, chứng tỏ tài nghệ kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ.
_______________________________________
1. Đường này thời Pháp gọi là Rue de la Citadelle, sau đổi thành Luro; sau năm 1955, đổi là Cường Đề.
2. Giám mục Gauthier, trong các thư gởi về Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, luôn luôn gọi Nguyễn Trường Tộ bằng danh hiệu “Kiến trúc sư”.
Thư tháng 8-1866: Tôi đã đến Huế ngày 17-8 cùng với một linh mục bản xứ và một giáo hữu (Kiến trúc sư của tu viện Dòng Thánh Phaolô ở Sài Còn).
Thư 1-1-1870: “Người giáo hữu Việt Nam mà tôi đã đem theo tôi năm 1867 và người ta quen gọi là “Kiến trúc sư” vì ông ta đã xây ngôi nhà ba tầng của các nữ tu Sài Gòn, một nhà nguyện và một ngọn tháp cao nổi bật...”.

3. Có thể xem Văn Đàn, 30-11-1961, trang 15.
4. Đan viện Carmel, ở số 33 Tôn Đức Thắng hiện nay, đối diện với Dòng Thánh Phaolô 4 Tôn Đức Thắng.
5. Boudet, Documents pour servir à L’Histoire de Saigon de 1859 à 1865. Saigon 1927 trang 109-110.
6. Messageries Impériales sau đổi thành Messageries Maritimes.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #12 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2010, 05:17:00 PM »


4. NHỮNG NGÀY THÊ LƯƠNG

Sau khi xây cất xong cơ sở của Dòng Thánh Phaolô, Nguyễn Trường Tộ tưởng là sẽ có một chuyến đi sang Anh để tham dự một Hội nghị khoa học do một người Anh có tới Sài Gòn tiếp xúc với tiên sinh và mời tiên sinh tham dự Hội nghị. Chuyến đi này coi như đã chắc chắn. Trong một văn thư gửi cho Phan Thanh Giản, cuối tháng 3-1864, Nguyễn Trường Tộ nói: “Hiện nay tôi muốn qua kinh đô nước Anh. Nhân nước Anh có mở đại hội cách trí, họ thường sai người đi khắp các nước, đến các đầu phố phỏng vấn về tình hình người phương Tây giao tế với các nước khác như thế nào (Việc này có tương quan đến đại thế tung hoành, phân hợp của các nước). Người này đến Gia Định, phỏng vấn người Pháp gần đây thế nào, Đại Nam thế nào, nhưng quan Pháp không chịu nói sự thật, y nghe tiếng tôi, tự đến hỏi thăm. Thực tình có bụng muốn gặp nhau nên nhân y muốn mời tôi cùng đi, tôi mừng thầm cho đó là cơ hội tốt khiến tôi có thể đến tận nước Anh, để nói lên những sự thật ngay trong nước Anh, như trong tờ mật bẩm ngày trước tôi đã nói lý do cần đi nước ngoài là vì thế (...). Nếu có việc gì ở nước ngoài, cần dùng đến tôi, thì xin cho biết gấp, tôi xin đợi ở Gia Định, không thì tôi đi trước. Hoặc đi hoặc ở lại, xin theo ý định của đại nhân1.

Nhưng rồi chuyến đi này không thực hiện được, có lẽ là do ai đó trong đám người Việt Nam giúp việc cho Pháp báo cáo nên người Pháp ngăn cản, không muốn cho Nguyễn Trường Tộ liên lạc với người Anh. Trong văn thư gởi cho Trần Tiễn Thành 19 tháng 3 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ nói: “Tôi cũng định đi xa, một là để thỏa mãn điều nguyện ước trước kia, hai là mong được bình phục sức khỏe để sau này báo đáp ơn trên. Nhưng thời thế còn có điều trở ngại, do người đời còn ghen ghét kẻ có tài mà chặn tay lại...2.

Ở Sài Gòn, trong thời gian này có lẽ Nguyễn Trường Tộ đã sống những ngày buồn tẻ, vì bệnh hoạn. Trong thư của Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm, ngày 19 tháng 6 năm 1866, mời Nguyễn Trường Tộ giúp đào Thiết Cảng có nói là “Vì chân của người chưa bình thường”, kèm theo một lời chú giải trong ngoặc đơn rằng: Khi ở Sài Gòn tiên sinh té lầu chân bị thương nhẹ3. Trong thư gởi Trần Tiễn Thành 19-3-1866, Nguyễn Trường Tộ nói: “Tôi trước đây bị ốm ở Gia Định, điều dưỡng đã gần hai năm, nay 10 phần đã giảm 5, 64.

Ngoài ra, Nguyễn Trường Tộ còn bị bệnh tê thấp, một căn bệnh theo đuổi ông cho tới khi chết và đã hạn chế rất nhiều hoạt động của ông. Trong một văn thư gởi cho Trần Tiễn Thành cuối năm 1864 đầu năm 1865, ở cuối, Nguyễn Trường Tộ có nói: “Nhân vì chân tôi bị tê bại sắp thành kẻ phế nhân, nằm ngửa ra mà viết, tinh thần buồn bã rối loạn, tự biết nói năng không thứ tự5. Rồi trong một bài viết, ít lâu sau đó, vào khoảng tháng 2-1865, ông lại nói: “Tôi hiện nay bị tê thấp chưa khỏi”.

Trong thời gian từ đầu năm 1861 cho đến đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ, chủ yếu ở Sài Gòn, không về Nghệ An, ít đi Huế. Chúng ta biết là ngày 9-6-1863, từ Sài Gòn Giám mục Gauthier lên tàu Grenada đi Huế, để trở về giáo phận của mình, cùng với 8 người Việt Nam6. Nhưng chắc chắn trong số 8 người Việt Nam này, không có Nguyễn Trường Tộ, bởi vì vào giữa năm 1863, công việc xây cất của Dòng Thánh Phaolô ở Sài Gòn đang ở cao điểm, không cho phép ông vắng mặt. Hơn nữa, nếu Nguyễn Trường Tộ có đi theo Giám mục Gauthier, trong chuyến đi này, thì cũng không về Nghệ An được, bởi vì Giám mục Gauthier phải dừng lại Bố Chính, bên kia bờ sông Gianh, cho tới giữa năm 1866 mới về được tới Xã Đoài.

Trong những ngày chờ đợi ở Sài Gòn, ngoài những liên hệ thư từ và tài liệu như đã nói ở trên, Nguyễn Trường Tộ chắc cũng đã tạo được một sự thân tình nào đó với Trần Tiễn Thành là ông quan đầu triều trong giai đoạn này, ở cuối văn thư đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ có nói tới cái thiên hạ thời vụ biểu không chạy: “Nếu tiện xin gởi đến, tôi sẽ đích thân chỉnh lại sẽ tốt. Nếu tôi bệnh chưa khỏi, thì sẽ thuê thợ Tây chỉnh lại cũng tốt. Vì thợ Tây biết tôi cũng chỉnh được nên không dám làm cẩu thả7.

Cái Thiên hạ thời vụ biểu này là do Trần Tiễn Thành mua hay do Nguyễn Trường Tộ biếu cho ông hoặc cho Triều đình, thì chúng ta không rõ. Nhưng điều này cho thấy là đã có một sự trao đổi, qua lại cụ thể. Rõ ràng hơn nữa, là cuối văn thư tháng 2-1865, Nguyễn Trường Tộ lại nói: “Tôi xin gởi kèm theo đây một cái hộp gỗ thô kính tặng quý công tử dùng đựng thuốc hút, mong đại nhân nhận cho. Tôi hiện nay bị bệnh tê thấp chưa khỏi. Xin quý công tử thương tình cho tôi 5 đồng cân quế Quỳ, sau này lành bệnh, tấm lòng khuyển mã chẳng dám quên ơn8.

Để tạo nên được sự thân thiện đó, chắc Nguyễn Trường Tộ đã có lần tới Huế, gặp gỡ Trần Tiễn Thành. Với các tài liệu hiện có, trong thời kỳ này, chúng ta chỉ thấy Nguyễn Trường Tộ ở Huế, một lần, vào tháng 2-1865, có lẽ theo thuyền Pháp, cùng Nguyễn Hoằng đến để giúp Triều đình trong việc thương thuyết với phái viên của Tây soái là Chevalier và góp ý với Triều đình về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy. Trong một văn bản đề tháng 8- 1866, Nguyễn Trường Tộ có nói là “Ngày trước tôi có bệnh trở về chỉ vì ý đó” (Văn bản số 17). Trong một văn bản tháng 2-1865, Nguyễn Trường Tộ viết: “Hiện nay thuyền Tây đã đến Kinh, tôi đã ngầm hẹn với ông Hoằng cùng đi với tôi là có thâm ý riêng9.

Chuyến đi Huế lần này hình như không đem lại kết quả cụ thể nào.
_______________________________________
1. Xem di thảo số 4.
2. Xem di thảo số 11.
3. Xem Lê Thước, tlđd.
4. Xem di thảo số 8.
5. Xem di thảo số 6.
6. Xem thư của Giám mục Gauthier (Kho lưu trữ M.E.P).
7, 9. Xem di thảo số 7.
8. “Công tử” đây, chắc bà con của Trần Tiễn Thành. Trần Tiễn Thành sinh ngày 14-12-1813, đậu tiến sĩ năm 1838: lấy vợ thứ nhất năm 1835, vợ thứ hai năm 1844; vợ thứ ba năm 1849; và có rất nhiều con: 8 trai và 15 gái, nhưng 6 trai và 10 gái đã chết lúc còn nhỏ. Hiện nay chúng ta cũng không thể biết được “công tử” này là con thứ mấy, tên gì. Theo ông Đào Duy Anh (Bulletin des Amis du Vieux Huế tháng 4 và 6 năm 1944), thì Trần Tiễn Thành có hai người con trai sống tới khôn lớn và một trong hai người con trai đó là Trần Tiễn Hối, tổng đốc Nghệ An sau này. Nếu “công tử” mà Nguyễn Trường Tộ gởi biếu hộp đựng thuốc và xin quế là Trần Tiễn Hối, thì vào thời điểm này Trần Tiễn Hối cũng chỉ mới 15-16 tuổi. “Công tử” này càng chắc chắn không phải là Nguyễn Lộ Trạch, bởi vì Trần Tiễn Thành chỉ gả con gái của mình là Nguyễn Thị Nhạn cho Nguyễn Lộ Trạch một hai năm sau khi Nguyễn Trường Tộ mất, lúc Nguyễn Lộ Trạch mới khoảng 20 tuổi.
Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #13 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 10:35:23 PM »


III. NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦY TRIỂN VỌNG
(1866-1868)


Đầu năm 1866, Nguyễn Trường Tộ được mời về Huế. Trong văn thư đề ngày 19-3-1866, gởi Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ nói: “Nay tôi nhân việc công về đây, chả mấy tháng bệnh cũ đã tăng lên, tuy được đại nhân chiếu cố cho thuyền đi lại mà cũng khó bề bôn tẩu vâng mệnh”1.

1. VỀ VỤ TÀU LONDON

“Việc công” đây chắc chắn là việc tàu London.

Về việc này, ĐẠI NAM THỰC LỤC chính biên (Bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 1974, trang 35-36) có nói là Hoàng Văn Xưởng sang Hương Cảng mua tàu Mẫn Thỏa, có quen chủ hãng tàu là Phô Na (Bonan) và đặt mua chiếc tàu Long Đôn (London) của hãng ông: “Mùa thu trước (tức mùa thu năm Tự Đức 18), người nước Hồng Mao, chủ hãng Phô Na cũng cho Ô Xích Tôn2 theo Vĩ Sĩ Thao đi chiếc tàu Long Đôn tới cửa Thuận An để bán... trị giá bạc hơn 13 vạn đồng. Hỏi thì họ nói là sử dụng được 20 năm nữa, mới cần phải sửa chữa lại. Nhân sai bọn Hoàng Văn Xưởng đi chiếc tàu tới Hương Cảng, do lãnh sự Pháp lập tờ biên làm bằng, rồi đưa về Thuận An trả tiền. Không ngờ bị Phô Na lừa dối, tàu đã cũ nát, chưa đi tới Hương Cảng, nhân bị gió gãy nát tổn hại, bọn Thao và Tôn bèn chở về Gia Định sửa chữa, rồi đưa đến Thuận An bắt phải mua”.

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã tới Huế khoảng cuối tháng 1 đầu tháng 2-1866 và ở lại Huế cho tới 10-4-1866. Trong thời gian này ông đã có một văn bản về cách giải quyết tàu London nhưng không được sử dụng vào việc tàu London nên Nguyễn Trường Tộ có lẽ chán nản, viết thư cho Trần Tiễn Thành nói lên nỗi thất vọng của mình và xin về Nghệ An (Di thảo số 11).

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã được vua Tự Đức chú ý đến, lần đầu tiên, do bản Khai hoang từ, là một bản trình bày kế hoạch phát triển đất nước một cách tương đối rõ ràng và dễ thực hiện, làm cho nhà vua phải lưu tâm. Có lẽ vì thế mà, theo lệnh nhà vua, Nguyễn Trường Tộ đã được triệu về kinh để giúp giải quyết vấn đề tàu London. Theo phụ lục bị khảo3, trên một di thảo của Nguyễn Trường Tộ vua Tự Đức có châu phê: “Nguyễn Trường Tộ có thể dùng được Hay là cho quan chức để lấy lòng và dùng sau”. Nhưng theo tấu của Trần Tiễn Thành và Phạm Phú Thứ, thì Nguyễn Trường Tộ lấy lẽ đau yếu không nhận quan chức. Vua Tự Đức lại đã truyền lệnh thu thập các văn bản của Nguyễn Trường Tộ4 và Trần Tiễn Thành đã được lệnh gặp gỡ và hỏi han Nguyễn Trường Tộ nhiều lần5.

Qua hai tờ tấu của Trần Tiễn Thành (ngày 29-3 và 11 tháng 5 năm 1866), chúng ta thấy là vào lúc này vua Tự Đức nửa muốn sử dụng Nguyễn Trường Tộ, nửa muốn không.

Trước hết Nguyễn Trường Tộ được mời về Huế để giúp giải quyết vụ tàu London, chắc chắn là do lệnh vua Tự Đức chứ không phải do sáng kiến của Trần Tiễn Thành. Thế nhưng Triều đình không sử dụng Nguyễn Trường Tộ, vua Tự Đức cũng y theo6.

Thứ đến là vua Tự Đức đã ra lệnh thu thập các văn bản của Nguyễn Trường Tộ, nhưng vẫn dè dặt trong việc sử dụng. Nhà vua châu phê về các tờ bẩm của Nguyễn Trường Tộ như sau: “Hãy duyệt xét các khoản, nếu rõ ràng không có gì nghi vấn mới có thể toan tính được7.

Cuối cùng Nguyễn Trường Tộ thấy mình ở Huế cũng không có việc gì để làm nên đã xin đi ra Quảng Bình để về Nghệ An, vua Tự Đức lại khiển trách Trần Tiễn Thành tại sao để cho Nguyễn Trường Tộ bỏ đi8.
______________________________________
1. Xem di thảo số 11.
2. Ô Xích Tôn tức Byrnes, người Anh và Vĩ Sĩ Thao tức Lèques, người Pháp.
3. Phụ lục III.
4. Lệnh này được sao lại ở đầu Hv 189/1 tờ 1, như sau:
    Vâng châu phê:
    “Hợp với Pháp, nước ngoài, âm mưu làm một việc phải không? Việc gì vậy? Khanh hãy sai thuộc hạ thân tín bí mật sao chép lại tất cả những tờ trình, bẩm của tên Tộ gửi cho khanh từ trước đến nay kể cả những thư từ phúc đáp, danh thích qua lại các khoản. Ghi rõ theo thứ tự năm tháng, đóng thành tập trình lên xem để rõ nguyên ủy, để thẩm tra căn cứ, không được sót lược. Nguyên bản các từ, phiến, đều phải giữ cẩn thận tra cứu đầy đủ.
    Tờ phiến của Lê Đình Đức giao Viện Cơ mật và Đoàn Thọ duyệt rồi nạp luôn với các bản”.

    Lệnh này được truyền cho Trần Tiễn Thành. Trong tờ tấu năm Tự Đức 19, ngày 12 tháng 2 (28-3-1866) có nói: “Còn các tờ bẩm của tên này sẽ đệ trình sau”. Trong lời châu phê của vua Tự Đức trên tờ tấu của Trần Tiễn Thành ngày 19-4 năm Tự Đức 19 (1-6-1866) có nói: “Hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ. Phải phúc trình riêng cho biết có bao nhiêu nguyên bản xét kiểm sơ qua các khoản đệ trình xem”.
    Trong lệnh sưu tập, có nói đến:
    - Việc hợp tác với người Pháp và người nước ngoài để khai thác tài nguyên của đất nước như đã nói trong Khai hoang từ (Di thảo số 8 ).
    - Tờ phiến của Lê Đình Đức, người của Bộ Công, đứng đầu việc dàn xếp tàu London.

5. Nguyễn Trường Tộ đã trả lời bằng miệng và cũng đã có trả lời bằng viết. Nhưng bản viết trả lời hiện nay chúng ta không tìm thấy ở đâu cả. Chúng ta chỉ thấy ở đầu bản Hv 189/1 tờ 1, mấy lời sau đây của Nguyễn Trường Tộ:
    “Bệnh tê của tôi chưa khỏi, tinh thần mệt mỏi, xin miễn cưỡng trả lời. Trong lời lẽ có chỗ nào bất cẩn, không kiêng húy kỵ, hoặc dùng ngôn ngữ không thích hợp, hoặc chữ viết không ngay ngắn, xin chỗ nào đáng bỏ cứ bỏ, cho tôi khỏi phải tội lỡ lầm. Còn về văn tự, chỗ nào không được hài lòng là tại vì cứ theo sự thật mà trình bày, khó liên lạc nhau, không phải như văn chương có thể lấy ý mà uốn nắn, nhưng về đại ý cũng không đến nỗi gián đoạn lắm.
    “Xin thưa,
    “Ngày trước Nguyễn Hoằng lên kinh và có thuật lại đầy đủ những điều triều đình hỏi. Tôi rất lấy làm sung sướng vì nghĩ rằng triều đình đã có ý tự cường, như vậy sẽ dần dần có cơ sáng sủa và phát triển ngày sau cả nước đều được nhờ ơn. Như thế không những sẽ có ngày khôi phục, mà thanh danh nước ta nhờ đó cũng được tỏ rạng trong thiên hạ, thế lực nước ta nhờ đó mà cùng nhau đua đuổi với các nước lớn. Tôi xin theo những điều hỏi mà trình bày, nhưng trong đó có chỗ nói rõ có chỗ chỉ nói sơ lược. Không phải tôi không muốn nói hết, chỉ vì ngại thời thế mà thôi.
    Nguyễn Trường Tộ ký”.

    (Hv 189/1 tờ 1).

6, 7. Xem phụ lục IV. 1
8. Xem phụ lục IV. 2

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #14 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 10:54:01 PM »


2. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ Ở NGHỆ AN

Nguyễn Trường Tộ đã cùng với linh mục Croc và Nguyễn Hoằng rời Huế ngày 10-4-1866 để đi Bố Chính, bên kia bờ sông Gianh, là nơi Giám mục Gauthier lưu lại từ tháng 8-1863 và có lẽ ở lại đó cho tới khoảng 9 hay 10 tháng 5 năm 1866, rồi cùng với Giám mục Gauthier đi về xã Đoài, Nghệ An1. Nguyễn Trường Tộ, lần này, chỉ ở lại quê khoảng ba tháng, bởi vì ngày 17-8-1866, ông đã cùng Giám mục Gauthier có mặt ở Huế để chuẩn bị lên đường đi Pháp2.

Sau mấy tháng ở Huế, Nguyễn Trường Tộ càng thấy bức xúc hơn việc canh tân, tự lực, tự cường của đất nước, nhưng ông cũng thấy rõ hơn những khó khăn trước mắt: Vua thì còn nghi ngờ Nguyễn Trường Tộ vì là người Công giáo; các quan trong triều thì cổ hủ, ít hiểu về cục diện của thế giới, lại tranh giành ganh tỵ với nhau, mưu đồ phế lập; các quan ở các địa phương thì hống hách... Trong lúc giặc Pháp thì có ý đồ thôn tính Việt Nam một cách rất cương quyết... Tất cả tâm sự nặng nề này, Nguyễn Trường Tộ đã bộc lộ trong một bức thư gởi Trần Tiễn Thành viết từ Nghệ An, đề ngày 15-6-1866 (Di thảo số 15).

Tuy nhiên, Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản chí. Về tới Nghệ An, việc đầu tiên ông làm là viết thư cho Triều đình để báo tin về việc Giám mục Gauthier có thể nhận giúp đi Pháp thuê thợ thầy và mua máy móc để mở trường huấn luyện về nghề nghiệp (Di thảo số 12).

Sau đó, ông lại viết một văn bản dài nói về “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, tháng 4 năm Tự Đức 19, tức khoảng từ 14-5 đến 12-6 năm 1866. (Di thảo số 13)

Ngày 4 tháng 6 năm 1866, ông lại viết một bản nữa để nói về tình hình xung đột giữa lương và giáo ở Nghệ An (Di thảo số 14).

Trần Tiễn Thành trong một bài tấu đề ngày 19-4 năm Tự Đức 19 (tức 1-6-1866) có nói là: “Tới đây thần có nhận được ba bức thư của Nguyễn Trường Tộ gởi cho thần, do từ Quảng Bình Nghệ An phát giao, cùng với một quyển Hàng Hải Kim Châm của dân đạo đệ nạp3.

Thế nhưng xét về ngày tháng, thì chỉ có hai văn bản số 12 và 13 là có thể được viết trước 1-6-1866, còn hai văn bản số 14 và 15 thì được viết sau. Vậy văn bản thứ ba được nói trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành có thể là một văn bản mà ngày nay thất lạc không tìm thấy. Trong tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 30 tháng 4 năm Tự Đức 19 (tức 12 tháng 6 năm 1866) có nói về việc duyệt xét một văn bản của Nguyễn Trường Tộ, liên quan đến việc Tây Ban Nha xin thiết lập lãnh sự quán ở Đà Nẵng, ta nên lập lãnh sự quán tại Sài Gòn... cũng như việc Nguyễn Trường Tộ đề nghị cho đo đạc đất đai ở các vùng cảng Đà Nẵng, Ba Lạt... và khai thác mỏ than ở Quỳnh Lưu giáp Thanh Hóa... Những nội dung này không thấy có trong các văn bản của Nguyễn Trường Tộ từ trước cho tới nay như chúng ta biết. Đây có phải là văn bản thứ ba được nói trong tờ tấu của Trần Tiễn Thành ngày 1-7-1866 mà chúng ta không tìm thấy ở chỗ nào cả hay không?

Theo ĐẠI NAM THỰC LỤC thì “tháng năm Bính Dần, Tự Đức 19 (tức từ khoảng 12-6 đến 11-7 năm 1866), sai Lang Trung Hồ Văn Long cùng với dân đi đạo là Nguyễn Trường Tộ đi từ Quảng Bình trở ra Bắc đến địa phận núi Hải Dương tìm mỏ than4. Nhưng Nguyễn Trường Tộ có lẽ chưa kịp đi, thì ngày 27 tháng 7 năm 1866 đã có văn thư của Bộ Lễ triệu tập Nguyễn Trường Tộ về Huế cùng với Giám mục Gauthier đi Pháp, “về khoản dò tìm mỏ than... thì có tên Lâu, tên Hoằng làm thay”5.
____________________________________
1. Theo tờ tấu của Trần Tiễn Thành (Xem phụ lục IV. 2), thì ngày 16-3 năm Tự Đức 19 (tức 30-4-1866), Giám mục Gauthier đã lên đường đi Nghệ An, nhưng có lẽ là Giám mục Gauthier chỉ đi thăm một xứ đạo (Bàn Thạch) ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Bởi vì trong báo cáo của linh mục Le Grand de la Lyraie ngày 18-5-1866, khi tàu Cosmao tới cửa sông Gianh ngày 6-5-1866, thì Giám mục Gauthier đang đi thăm một xứ đạo ở mạn Bắc có nhà thờ bị văn thân đốt phá; sáng ngày 8-5-1866, Giám mục Gauthier mới về tới Bố Chính, chiêu đãi chỉ huy tàu Cosmao buổi trưa và dự chiêu đãi trên tàu Cosmao buổi tối.
2. Theo thư của Giám mục Gauthier viết cho Hội Truyền giáo (Kho lưu trữ M. E. P).
3. Phụ lục IV. 3
4. Xem bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội 1974 tập 31, trang 33.
5. “Thự Tổng đốc An Tĩnh Hoàng Tá Viêm làm tờ chiếu hội như sau: Nay tiếp được tư văn của bộ Lễ nói rằng: (...) về khoản dò tìm mỏ của quý chức và của Nguyễn Trường Tộ thì đã có tên Lâu, tên Hoằng làm thay (...) Ngày nào quý chức lên đường xin tư cho biết trước. Nay hợp làm tờ Chiếu hội mong hãy tuân chiếu các sự lý của Bộ tư về mà sớm thi hành, vậy làm tờ chiếu hội này cho Giám mục Ngô (Ngô Gia Hậu = Gauthier) và quý chức tuân hành. Ngày 16 tháng 6 năm Tự Đức 19”.
    (Xem nguyên văn chữ Hán trong Nam Phong số 102).

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #15 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 10:56:37 PM »


Trong thời gian gần ba tháng ở Nghệ An, Nguyễn Trường Tộ hình như chỉ làm được một việc duy nhất là giúp hoàn thành được việc đào Thiết Cảng.

Sự tích ông Nguyễn Trướng Tộ viết: “Năm Tự Đức 19, Bính Dần, ngũ nguyệt, Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt. Người được chỉ ra trọ nơi xã Kim Khê, thì người viết thư cậy ông Tộ đi khám xem hình đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào. Vì trước ông Cao Biền là quan vua Đường bên Tàu sang làm quan Bộ Hộ úy nước Nam, lại vua Quý Ly nhà Hồ đã đào không xong, vì mắc nhiều đá cuội dưới đất. Ông Tộ đi xem nói rằng: Có một khúc vì có nhiều đá lớn, như bên Tây có cốt mìn thì phá đi, ta không có nên phải tránh, ông cắm nêu một hồi buổi sớm vừa xong, dân phu cứ thế mà đào thì kênh hoàn thành. Ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt1.

Kênh Sắt, nay gọi là Kênh Gai, nối liền sông Cấm cũng gọi là sông Cửa Lò với sông Vinh, một phụ lưu của sông Lam, theo tục truyền là được bắt đầu từ thời Cao Biền hay thời nhà Trần. Nhưng nói đến Cao Biền là nói đến cảng Thiên Uy hay Thiên Lôi bên Tàu. Nguyễn Trường Tộ, trong bài bạt mừng đào xong Thiết Cảng có nhắc đến sự tích Cao Biền để nói rằng cảng Thiên Uy là một phần do Trời, còn Thiết Cảng thì hoàn toàn do công người2.

Cũng trong bài “Hạ Thiết Cảng thành bạt”, Nguyễn Trường Tộ, sau khi nói về vai trò của con người trong việc bổ túc cho sự tạo thành, trong vũ trụ cũng như tại Việt Nam, đã có nói: “Đối với những kênh nào có thể đào vét được thì tiền nhân đã đào vét và hoàn thành cả rồi. Duy có một Thiết Cảng này Triều đình trước (tiên triều) đã tốn bao nhiêu tâm lực vẫn không làm xong. Đó cũng vì tiền bạc thì ít mà công việc thì quá khó, lại không lượng sức muốn cưỡng làm cái công việc mà tạo hóa có ý lưu chậm lại đến ngày nay, cho nên không thể xong việc được3.

Như thế có nghĩa là con Kênh Gai đã được khơi từ Diễn Châu vào và từ sông Vinh ra, rồi gặp phải một chỗ sắt đá không đào tiếp cho thông thương được; thuyền bè từ Diễn Châu vào và từ sông Vinh ra phải dừng lại bến cảng đó và bến cảng ấy gọi là Thiết Cảng.

Theo ĐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, Thiết Cảng ở cách huyện lỵ Hưng Nguyên 15 dặm về phía Đông Bắc và cách sông Cấm khoảng 30 dặm ở phía Nam...

Theo ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN, thì “tháng 5 (năm Tự Đức 19) đào sâu con đường cảng (...) ở tỉnh Nghệ từ chỗ nước trũng đến cái đập ngăn nước, trong đó có chỗ từ xã La Hoàng đến xã Thạch Dương, đều cong vòng và sỏi, đá, phải đổi khơi ở bên cạnh4.

Trong thư của Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm viết ngày 7 tháng 5 năm Tự Đức 19 (tức 19-6-1866) để mời Nguyễn Trường Tộ giúp cho việc đào kênh có nói: “Nhân được phê chuẩn rằng việc đào Thiết Cảng thật là tiện lợi công tư, nhưng tốn nhiều công của, làm việc này phải hết sức công phu mới được. Tôi ngày đêm suy nghĩ rằng phải có bực hiểu biết hơn người mới có thể giảm bớt tốn phí và thành công được. Hôm qua nghe hai vị Ngụy, Phan5 khen, thì tài năng của ngài chắc chắn có thể giúp cho công việc này được. Và đó cũng là thiện nguyện của ngài muốn tạo một phúc lợi lớn cho nhân dân tỉnh hạt. Nhưng vì chân của ngài chưa được bình thường6 khiến gần đây tôi không nhận được bản góp ý nào của ngài cả. Nay tay thợ đã sẵn sàng, như ngài có lòng vì dân vì nước, xin hãy đến nơi khám xét địa hình, chỉ vẽ những điều tiện lợi, khả dĩ bớt công, giảm phí giúp cho nhân dân đỡ được phần nào, mà cũng không phụ lòng mong mỏi của nhân dân vậy (...) Thư của Thự Tổng đốc An Tĩnh họ Hoàng quán sở Kim Khê kính gởi Nguyễn Trường Tộ ở Đoài Giáp, huyện Hưng Nguyên tri chiếu7.

Cũng theo Lê Thước, thì sau khi nhận được thư của Hoàng Tá Viêm, Nguyễn Trường Tộ liền ngồi lên cáng đến nơi khám xét, chỉ rõ tình thế, lấy tre cắm tiêu vài mươi dặm theo đường thẳng, chỉ có một đoạn hơi cong để tránh những tảng đá lớn... chỉ một tháng đào xong8.

Tuy nhiên ĐẠI NAM THỰC LỤC lại nói: “Tháng hai (Tự Đức 20), lại đào Thiết Cảng ở tỉnh Nghệ An (Năm ngoái khơi chưa xong, hoãn đến nay lại đào), phái biện lý bộ Công là Phạm Ý đi khám9.

Qua các văn bản trích dẫn trên đây, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ đã khai thông được con đường thủy từ Sông Cấm cho tới sông Vinh, xóa bỏ được Thiết Cảng (Cửa Sắt), để làm thành Kênh Sắt10, mà ngày nay chúng ta gọi là Kênh Gai hay kênh Nguyễn Trường Tộ. Công việc này đã có thể hoàn thành trong những ngày Nguyễn Trường Tộ còn ở Nghệ An giữa năm 1866 và ông làm bài bạt “mừng đào xong Thiết Cảng”. Đầu năm 1867, theo ĐẠI NAM THỰC LỤC, công việc còn được tiếp tục, nhưng có lẽ chỉ là nạo vét, đắp bờ cho hoàn chỉnh. Nguyễn Trường Tộ quả thực đã có công lớn là hoàn thành một công trình dở dang từ nhiều thế hệ trước, thế mà sử sách của nhà Nguyễn đã không nói gì tới sự nghiệp này của ông.
____________________________________
1. Xem phụ lục I.
2. Xem chú thích bài bạt mừng đào xong Thiết Cảng (Di thảo số 16).
3. Xem di thảo số 16.
4. Xem bản dịch của Nhà Xuất bản KHXH, năm 1974 tập 31 trang 31.
5. Ngụy Khắc Đản; Phan Huy Vịnh (?).
6. Có câu trong ngoặc đơn sau đây, có lẽ là chú thích của Lê Thước, người sao lại bản văn trong Nam Phong số 102: “Khi tiên sinh ở Sài Gòn té lầu chân bị thương nhẹ, người thường nói đùa rằng: Một lần sẩy chân, ngàn đời ôm hận.
7, 8. Xem Lê Thước, tlđd. Phụ lục II.
9. Bản dịch của Nhà Xuất bản KHXH tập 31 trang 110.
10. Theo một ghi nhận ở mục Diễn Đàn trên nguyệt san Công giáo và Dân tộc tháng 10 - 2001, thì vị trí của Kênh Sắt là ở Cầu Cấm ra Diễn Châu thông với sông Bùng.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2010, 05:09:17 PM »


3. VỀ HUẾ ĐỂ CHUẨN BỊ ĐI PHÁP

Nhưng ở Huế, uy tín của Nguyễn Trường Tộ vào lúc này hình như đang ở mức cao.

Số là sau khi Nguyễn 'Trường Tộ rời Huế đi Quảng Bình vào đầu tháng 4-1866, mà vua Tự Đức không hay biết, Trần Tiễn Thành đã bị khiển trách là tại sao không giữ Nguyễn Trường Tộ được ở lại Kinh1. Rồi khi Trần Tiễn Thành, trong tờ tấu ngày 1-6-1866 tỏ ra hối hận là đã nhận được ba văn bản của Nguyễn Trường Tộ từ Nghệ An gởi vào, vua Tự Đức lại khiển trách thái độ giận dỗi của Trần Tiễn Thành: ở cuối tờ tấu, vua Tự Đức châu phê: “Đọc tờ trần tình thật không thể hiểu được... Than ôi, việc nước ta biết cùng ai mưu tính mà cùng chia sẻ nỗi gian truân này: Trường Tộ việc gì cũng đã nghi ngờ triều đình, mày cũng theo mà tạo nghi ngờ nữa, thì mọi việc mỗi ngày một hỏng không trông mong gì thành công được...”. Rồi vua dạy: “Nay hãy đệ nạp các bản, trong đó các khoản nên chăng như thế nào, khoản nào nên làm ngay, khoản nào nên đình lại, nhất nhất phải nói rõ (Phải phúc trình riêng cho biết có bao nguyên bản, sát kiểm sơ qua các khoản để tiện xem). Lại phải tiến trình các bản chưa đóng hãy đóng chung lại kẻo mất...2.
 
Theo đề xuất của Viện Cơ mật, ở cuối tờ tấu đề ngày 30-4 năm Tự Đức 19, nhà vua đã cử Nguyễn Trường Tộ cùng với Hồ Văn Long đi tìm mỏ từ Nghệ An ra Bắc... Nhưng sau, có lẽ do đọc kỹ các văn bản của Nguyễn Trường Tộ gởi từ Nghệ An, vua Tự Đức lại đổi ý, và cho triệu tập Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier vào Huế để giao trách nhiệm đi Pháp thuê mướn thầy thợ và mua sắm máy móc, thiết bị.

Ngày 17 tháng 8 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ cùng với Giám mục Gauthier và linh mục Nguyễn Điều tới Huế theo hệ thống “trạm dịch”, nghĩa là có ngựa, có cáng, có lọng đưa đón như các quan lớn của triều đình. Tới Huế, Giám mục Gauthier đã được cấp phát 3 thoi bạc, 60 quan tiền và 20 đấu gạo trắng. Giám mục Gauthier đã được hội kiến ba lần với các quan lớn trong Cơ Mật viện3. Riêng Nguyễn Trường Tộ thì được vua Tự Đức cho tiếp kiến ở nhà Tả Vu và được hỏi han nhiều điều4.

Việc đầu tiên của Nguyễn Trường Tộ, lúc vừa tới Huế, là làm bản đề xuất về việc sử dụng Giám mục Gauthier và các linh mục Việt Nam trong chuyến đi sắp tới để triều đình có cơ sở bàn bạc với giám mục hầu tránh những sơ hở trong lúc trao đổi (Di thảo số 17).

Trước hết, Triều đình Huế muốn nhờ Giám mục Gauthier giúp lấy ba tỉnh đã nhượng cho Pháp theo Hòa ước 5-6-1862. Nhưng về việc này, thì trong văn thư gởi từ Nghệ An ngày 17 tháng 5 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ đã nói là giám mục không thể làm được. Lần này Nguyễn Trường Tộ nhắc lại là Triều đình không nên đặt vấn đề đó với giám mục, mà một mực chỉ nói về tinh thần hòa hảo của Triều đình, muốn hợp tác lâu dài với Pháp, để vô hình trung, giám mục tuyên truyền cho lập trường của Việt Nam ở bên chính quốc. Còn việc vận động chống lại mưu đồ lấn chiếm của Tây Soái ở Sài Gòn, thì xin để Nguyễn Trường Tộ cùng Nguyễn Hoằng cùng làm, không nên để lộ cho giám mục biết.

Thứ đến là việc thuê thầy và thợ về mở trường, thì theo đề nghị của giám mục, nên cho một số giáo sĩ đã có biết ngoại ngữ sang Pháp học một năm để giúp dạy ứng dụng, Nguyễn Trường Tộ cũng cho là phải, nên giới thiệu Nguyễn Huấn, Nguyễn Hoằng, Nguyễn Điều, Nguyễn Lâu...

Tất cả các đề xuất của Nguyễn Trường Tộ lần này, đều được Triều đình nghe theo.

Nguyễn Trường Tộ còn có một văn bản đề ngày 1-9-1866, về việc cải tổ học thuật và tổ chức học tập thực dụng trong nhân dân (Di thảo số 18 ).

Nhưng bản văn làm cho vua Tự Đức chú ý hơn cả và gây được tình cảm nơi nhà vua đối với Nguyễn Trường Tộ vào lúc này có lẽ là bài “Ngôi vua là quý, chức quan là trọng”, viết tại Nghệ An tháng 6 (5-6 năm 1866). Trong bản văn này, Nguyễn Trường Tộ đã dùng tất cả mọi lý lẽ của trời đất, của Đông Tây để chống lại mọi âm mưu phế lập. Phải chăng vì nghĩ rằng muốn canh tân, xây dựng đất nước cần phải có ổn định chính trị, mà Nguyễn Trường Tộ chủ trương phải duy trì trật tự xã hội hiện hữu.

Chúng ta biết vua Tự Đức là Hồng Nhậm, con thứ của vua Thiệu Trị được lập lên làm vua thay vì người anh cả là Hồng Bảo. Hồng Bảo đã nhiều lần tìm cách lật đổ vua em và cuối cùng bị bắt giam và thắt cổ chết trong ngục năm 1854. Từ đó vua Tự Đức sống trong một sự lo sợ triền miên. Trong đêm mồng 8 rạng mồng 9 tháng 8 năm Tự Đức 19, tức trong đêm 16 rạng 17 tháng 9-1866, quân nổi dậy của Đoàn Trưng và Đoàn Trực, những người ủng hộ con của Hồng Bảo là Đinh Đạo, đã vào cận nhà ở của vua Tự Đức, chỉ trong gang tấc là nhà vua đã bị hạ sát...

Nguyễn Trường Tộ chắc chắn là cũng đã từng biết rõ tình hình này5.

Đô đốc De Lagrandière, trong một bản báo cáo đề ngày 29-10-18666 có nói rằng: “Từ khi tôi trở lại Nam kỳ, tôi luôn luôn chú ý tới tình hình chính trị của vương quốc An Nam, thường bị xáo trộn bởi những cuộc tranh giành phe phái và về tình trạng an toàn ít có của quyền hành vua Tự Đức. Khi tôi vừa về tới Sài Gòn, thì những phái viên bí mật từ Huế vào hỏi là tôi sẽ xử trí như thế nào nếu có xảy ra một cuộc đảo chính ở Huế để thay thế vua Tự Đức bằng một người trong họ hàng nhà vua: Những người đi theo người anh của nhà vua rất đông và đang nghĩ tới việc đem dòng dõi ông lên làm vua. Tôi chỉ trả lời qua loa cố ý cho họ hiểu rằng các biến cố sẽ quyết định thái độ của tôi và không thể nói trước là tôi ủng hộ phe phái nào.

“Ít lâu sau người ta còn thăm dò tôi nhiều lần nữa và người ta còn hỏi tôi cụ thể nhân danh những người ủng hộ người cháu của vua để xem thái độ của chính phủ Pháp như thế nào nếu Tự Đức được thay thế bởi Long Hoàng Tôn...”.


De Lagrandière muốn lợi dụng tình hình rối ren và yếu kém của Triều đình Huế nên đã đề nghị với vua Tự Đức là ký kết với Pháp một hòa ước mới thay cho Hòa ước 5-6-1862, nhượng thêm cho Pháp ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên để được sự bảo hộ và bảo trợ của Pháp, giữ vững ngai vàng của mình.

Nguyễn Trường Tộ hiểu rất rõ âm mưu của Pháp và hoàn cảnh khó khăn của Triều đình vua Tự Đức, nên điều trước tiên, theo ông, là phải tìm cách ngăn chặn ý đồ thôn tính của Tây soái, điều mà ông sẽ tích cực làm khi tới Sài Gòn và tới Pháp. Nhưng trước mắt, theo một văn thư gởi cho Lục bộ đại thần, ngày 3-9-1866, ông vẫn khuyên Triều đình là phải khôn khéo hòa hoãn với Pháp, tìm cách dựa vào Pháp mới mong tránh khỏi họa thù trong giặc ngoài (Di thảo số 19).
________________________________________
1. Xem phụ lục IV. 2 (Trích lời châu phê ở đầu bài).
2. Xem phụ lục IV. 3.
3. Theo một bức thư của Giám mục Gauthier viết cho Hội Truyền giáo Paris (Kho lưu trữ M.E.P).
4. Xem Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ, phụ lục I.
5. Theo cuốn tiểu thuyết lịch sử “BIẾN ĐỘNG” của Thái Vũ do Nhà xuất bản Thuận Hóa năm 1985, thì Đoàn Trưng, người cầm đầu cuộc nổi dậy mùa hè năm 1866, có gặp Nguyễn Trường Tộ. Điều này hiện không dựa trên một tài liệu lịch sử nào, có thể chỉ là do suy diễn hư cấu của người viết tiểu thuyết, nhưng không hẳn là hoàn toàn không thể xảy ra trong lịch sử.
6. Kho lưu trữ Bộ Hải quân Indochine BB 4, 876.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #17 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2010, 05:12:33 PM »


4. TRONG NHỮNG NGÀY CHỜ TÀU Ở SÀI GÒN 17-9-1866 - 10-1-1867

Ngày 15 tháng 9 năm 1866, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier và đoàn tùy tùng đi tàu của nhà vua vào Sài Gòn và ở Sài Gòn chờ tàu cho tới ngày 10-1-1867 mới lên đường đi Pháp.

Trong thời gian ở Sài Gòn, Giám mục Gauthier đã có những cuộc tiếp xúc với đô đốc Lagrandière và lãnh sự Tây Ban Nha. Nguyễn Trường Tộ cũng đã có nhiều cuộc gặp gỡ để nắm tình hình theo yêu cầu của Triều đình.

Trong thời gian này, Nguyễn Trường Tộ đã có 6 bản báo cáo gởi về Huế:

- Văn bản ngày 27-10-1866 (Di thảo số 20)

- Văn bản ngày 27-10-1866 (Di thảo số 21)

- Văn bản ngày 3-11-1866 (Di thảo số 22)

- Văn bản ngày 3-11-1866 (Di thảo số 23)

- Văn bản ngày 24-12-1866 (Di thảo số 24)

- Văn bản (không đề ngày tháng) về các hội nước ngoài (Di thảo số 25)

Qua các văn bản này, Nguyễn Trường Tộ trình bày cho Triều đình thấy là có một cự ly giữa ý đồ của của Tây soái ở Sài Gòn và chính sách của chính phủ ở Pháp.

Tây soái, Đô đốc Lagrandière, thì muốn bằng mọi cách thôn tính hoàn toàn sáu tỉnh Nam kỳ và áp đặt trên phần đất còn lại của Việt Nam một hiệp ước bảo hộ. Cuối tháng 4-1866, Lagrandière đã phái chỉ huy tàu Cosmao, cùng với linh mục Legrand de la Lyraie làm thông dịch viên, tới Huế đặt thẳng vấn đề với Triều đình vua Tự Đức; tháng 9-1866, Paulin Vial cùng với linh mục Legrand de la Lyraie lại đi tàu Cosmao tới Huế. Nhưng ở đây vừa xảy ra cuộc nổi dậy của Đoàn Trưng và Đoàn Trực, nên không tổ chức được các cuộc thương thuyết. Tuy nhiên, Laglandière vẫn tỏ ra lạc quan trong báo cáo gởi về Bộ Hàng hải và Thuộc địa ngày 29-10-1866. Lagrandière viện dẫn các lời lẽ của Giám mục Gauthier để biện hộ cho sự lạc quan của mình. Ông viết:

“Tôi đã trao đổi với giám mục về tình hình chính trị ở Kinh đô Huế. Giám mục Gauthier làm cho tôi tin tưởng hơn ở những nhận định và những nỗ lực kiên trì của tôi trong hơn một năm qua để đi tới đích. Theo giám mục thì những đề nghị trực tiếp, do tàu Cosmao đưa đến, đã làm cho Triều đình Huế phải suy nghĩ. Người ta có thể dễ dàng đi tới việc nhượng đất, nếu tôi có thể bảo đảm cho quyền bính và sự kế nghiệp của vua Tự Đức không bị vi phạm, nếu tôi hứa giúp tiễu trừ giặc biển.

“Giám mục Gauthier cũng nói rõ là ngài không có sứ mạng để nói về những vấn đề ấy, nhưng nếu ngài nói ra thì người ta cũng hoan nghênh thôi. Ngài cũng không giấu giếm tôi là vẫn có những khó khăn do một vài vị quan lại trong Triều đình. Phải có một sự phô trương lực lượng mới làm cho những người này chùn bước. Nhưng ngài xác tín là cứ tiến tới và hy vọng sẽ có một giải pháp tốt đẹp.

“Đã đến lúc phải hành động một cách có hiệu quả và tôi đã một lần nữa gởi tàu Cosmao đi Huế, tôi đã giao cho giám đốc Nội vụ cùng với linh mục Legrand de la Lyraie làm thông ngôn, đem hai bức thư của tôi gởi cho vua Tự Đức và Bộ trưởng Ngoại giao. Tôi đề nghị với Đức vua là nhượng cho chúng ta ba tỉnh và, ngược lại, chúng ta sẽ xóa một nửa số nợ bồi thường chiến tranh còn lại (nửa kia là phần phải trả cho Tây Ban Nha); tôi cũng cam kết là nước Pháp sẽ hỗ trợ cho nhà vua để đẩy lui tất cả mọi âm mưu tiếm vị và bảo đảm quyền uy cho người kế vị mà Đức vua lựa chọn; tôi cũng sẽ giúp tiễu trừ giặc biển và hứa là sẽ đón tiếp và khuyến khích các tàu buôn của nhà vua.

“Nhưng tiếc thay là các biến cố xảy ra đã không cho phép các giải pháp của tôi được đem ra thi hành, vì đã bùng nổ một cuộc nổi loạn, khi tàu Cosmao vừa tới Huế. Lần này cuộc nổi loạn là do âm mưu của các nhà sư, đứng đầu có nhiều vị quan và nhiều người trong hoàng tộc muốn đưa cháu của vua là Long Hoàng Tôn lên ngôi, như tôi đã nói trước đây...”
1.

Sự thực là, vào thời điểm này, Triều đình vua Tự Đức vẫn nuôi ảo tưởng chuộc lại ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường đã nhượng cho Pháp theo Hòa ước 5-6-1862 và lo sợ việc mất ba tỉnh còn lại của Nam Kỳ là Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên.

Nguyễn Trường Tộ, trong hai văn thư đề ngày 27-10-1866 (Di thảo số 20 và 21), cho rằng đây chỉ là do Laglandière cường điệu. Chứ tình hình không thuận lợi như vị Tây soái này tâu trình: ở Cao Mên, quân đội Pháp gặp rất nhiều khó khăn; ở Gia Định, thì các kiều dân Pháp than phiền bị thua lỗ; ở chính quốc, thì có nhiều dư luận chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở các vùng đất xa xôi...

Nguyễn Trường Tộ đề nghị là phải vận động sự giúp đỡ của Tây Ban Nha, thông qua lãnh sự quán của nước ấy ở Sài Gòn, thông qua các giám mục Tây Ban Nha ở Bắc Kỳ và bằng cách gởi quốc thư và cử phái bộ sang Tây Ban Nha2.

Nguyễn Trường Tộ đặc biệt chú ý tới việc vận động dư luận và các chính khách của lưỡng viện tại Pháp. Ông đề nghị viết sẵn quốc thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp để giám mục Gauthier chuyển; tìm cách liên lạc với Aubaret và nhiều chính khách.

Nguyễn Trường Tộ cũng bàn đến kế hoạch gây khó khăn cho Tây soái bằng cách liên kết với anh vua Cao Mên đang chống Pháp; liên kết với Thái Lan và Anh làm cho Tây soái sợ rắc rối lớn phải thoái chí. Trong một văn bản đề ngày 24-12-1866, Nguyễn Trường Tộ viết:

“Khoảng tháng ba, tháng tư năm nay có một quan khâm sai người Tây đến thám sát Gia Định trở về tâu với vua Tây rằng: Sự thế ba tỉnh không có gì khả quan. Nay lại có người anh vua Cao Mên gây loạn, cậy có chỗ hiểm yếu chống lại Pháp, quân Pháp phải chạy tháo thân, nhuệ khí sút kém. Mọi người đều nói rằng Tây soái tất sẽ bị tội phải triệu về thôi”3.

Đặc biệt trong dịp này Nguyễn Trường Tộ liên lạc được với một người Pháp tên là Di Minh (Sic): “Nguyên xuất thân võ biền, năm trước anh ta đã học được tiếng ta, mười phần biết được sáu bảy, anh ta lại hơi biết tiếng quan thoại Trung Quốc nữa, xem được mặt chữ, gần đây khi thì anh ta làm thông ngôn, hoặc làm kinh doanh; anh ta sống chung với dân ta cũng rất được cảm tình. Trong cuộc sống, anh ta tuy không thật phải là người tốt, nhưng anh ta cũng không có ý gì tranh chấp thù hằn với người mình. Năm nay ở Tây Ninh anh ta hay ngấm ngầm qua lại với các quản đội đến nỗi Tây soái nghi và bắt giam lỏng anh ta ba tháng. Hiện nay anh ta sống chung một nhà với mấy người học tiếng Tây của ta. Anh ta nghe tin tôi từ kinh về, đã lén đến chỗ tôi bí mật trình bày mọi việc4.

Di Minh xin về Pháp vận động dư luận ở đó chống lại Tây soái, ủng hộ Việt Nam hoặc xin giả dạng về Anh chiêu mộ người Anh giúp Việt Nam. Di Minh xin được bí mật tới Huế trình bày kế hoạch.

Ngày 25-12-1866, Thương Bạc đã trả lời Nguyễn Trường Tộ là Di Minh lên Kinh chưa tiện, phải có người đem đi. Nhưng trước khi nhận được chiếu hội của Thương Bạc và trước lúc lên tàu đi Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã viết thư giới thiệu cho Di Minh cầm đi Đà Nẵng. Các quan lại ở Quảng Nam tâu lên, ngày 14-5-1867, Viện Cơ mật xét và trình tâu là không nên sử dụng Di Minh, sợ Tây soái sinh nghi làm rắc rối, rồi giao cho quan lại ở Quảng Nam đem 20 lạng bạc, với gà vịt, đường gạo... tặng và phủ dụ Di Minh là nên về Gia Định chờ Nguyễn Trường Tộ đi Pháp về5.
________________________________________
1. Kho lưu trữ Bộ Hải quân Indochine BB 4, 876.
2. Di thảo số 22.
3. Di thảo số 24.
4. Di thảo số 23.
5. Phụ lục V. 1 (Châu bản triều Nguyễn)
    Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa xác định được Di Minh là ai. Chúng ta biết là có một người Pháp, tên là Duval, đã tham gia đoàn quân viễn chinh ở Nam kỳ, với cấp bậc trung sĩ; một kẻ phiêu lưu, đầy tham vọng và giả dối: Đầu năm 1862 xin nghỉ phép sang Hong Kong, Ma Cao để tìm liên lạc xin chiến đấu dưới cờ của Lê Duy Phụng; công việc không thành, cuối năm 1863 trở về Pháp, được thăng cấp bậc thiếu úy, tham gia phái bộ của Aubaret tới Huế để thương thuyết về hòa ước mới thay thế Hòa ước 1862, trong hồi ký “Souvenirs militaires ét financiers”, Paris 1891, khoe khoang là chống Aubaret, nhưng theo các thư từ của Duval trong kho lưu trữ của Bộ quốc phòng Pháp, thì rất thất vọng vì hiệp ước Aubaret không được phê chuẩn... theo lý lịch, thì từ ngày 4-5-1864 đến 12-4-1967 ở Mêhicô và từ 4-5-1867 tới 8-6-1870 ở Phi châu; trong thực tế bị bóc lon nhiều lần; nhưng tháng 6-7-1867 vẫn ở Paris không việc làm, xin được làm lãnh sự của Pháp ở Ba Lạt hay Đà Nẵng mà không được. Cũng khó mà có khả năng Di Minh là Duval...

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2010, 05:15:07 PM »


5. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ Ở PHÁP

Ngày 10-1-1867, Nguyễn Trường Tộ đã cùng với Giám mục Gauthier, linh mục Nguyễn Điều, phó tế Nguyễn Hoằng và Joannes Vị với hai vị quan của Triều đình là Nguyễn Tăng Doãn (văn) và Trần Hiếu Đạo (võ), đáp tàu L’ORNE đi Pháp1.

Hiện chúng tôi không có tài liệu cho thấy là trong chuyến đi châu Âu lần này Giám mục Gauthier có ghé qua Rôma hay không. Chúng ta chỉ biết là trong một bức thư gởi cho Hội Truyền giáo Paris2, Giám mục Gauthier có cho biết là mình sẽ ghé qua Rôma trước khi tới Paris. Điều này xem ra cũng dễ hiểu. Bởi vì trước khi nhận một nhiệm vụ như nhiệm vụ của Triều đình vua Tự Đức giao phó, Giám mục Gauthier đáng lẽ đã phải xin ý kiến của Bộ Truyền giáo ở Rômaa. Trong hai văn thư gởi Triều đình Huế ngày 17-5-1866 và ngày 18-8-1866 (Di thảo số 14 và 17), Nguyễn Trường Tộ (có thể là theo yêu cầu của Giám mục Gauthier) có đề nghị với Triều đình là nên viết thư cho Giáo hoàng ở Rôma về việc Triều đình muốn nhờ Giám mục Gauthier giúp trong công cuộc canh tân đất nước. Nhưng Triều đình Huế đã không để ý tới yêu cầu này và đã triệu tập Giám mục Gauthier và Nguyễn Trường Tộ về Huế rồi cử đi Pháp ngay. Do đó mà việc trước tiên giám mục phải làm khi tới châu Âu là qua Rôma để trình bày công việc sắp làm của mình với các bộ ở Rôma cũng như để xin sự giúp đỡ. Sau này chúng ta biết là Bộ Truyền giáo có trích quỹ 20.000 francs để giúp cho Giám mục Gauthier mở trường ở Huế3.

Nguyễn Trường Tộ có lẽ đã đi theo Giám mục Gauthier sang Rôma. Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ có viết:

“Khi sang phương Tây qua biển Trung vào nước Ý Đại Lợi, có vào thành Rôma, được vào chầu Đức Giáo hoàng Piô IX. Ông Tộ được hôn đầu gối Người và Người ban cho một chữ tiền lớn hơn đồng bạc, một bên đúc chính hình tượng và tên Đức Giáo Hoàng, một bên đúc một tòa nhà sang trọng, chữ tiền ấy hãy còn”4.

Chúng ta hiện có rất ít tài liệu về hoạt động của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier ở châu Âu trong chuyến đi này.

Chúng ta biết là cuối tháng 3-1867, Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đã có mặt ở Paris5 và ngày 25-11-1867 Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier đã rời Pháp để lên đường trở về Việt Nam6.

Ở Pháp, Giám mục Gauthier đã tới Bộ Ngoại giao, Bộ Hàng hải và Thuộc địa để xin tài trợ cho các chương trình của mình. Giám mục cũng đã tiếp xúc với các thương gia và kỹ nghệ gia.
________________________________________
1. Báo cáo của La Grandière ngày 10-1-1867, Kho lưu trữ Bộ Hải quân BB 4-876.
2. Kho lưu trữ Hội truyền giáo M. E. P.
3. Thư của Giám mục Sohier (Bình) ở Huế gởi Hội Truyền giáo Paris 29-11-1869 tại kho lưu trữ M.E.P ở Paris.
4. Xem phụ lục I.
    Ở đây Nguyễn Trường Cửu muốn nói đến chuyến đi châu Âu của thân sinh mình năm 1859-1860. Nhưng theo chúng tôi, thì những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ không đi tới châu Âu. Do đó sự kiện được nói trong Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ ở đây là vào thời điểm này.

5. Trong Kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp ASIE 29 bis có một phúc trình ngày 29-3-1867 nói là: “Giám mục Gauthier, đặc trách sự vụ của Triều đình Huế, xin gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao”.
6. Tạp chí Missions Catholiques 1868 trang 59 - 60 nói: “Giám mục Gauthier rời nước Pháp ngày 25-11-1867”.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6719



« Trả lời #19 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2010, 05:22:44 PM »


Đầu tháng 5-1867, giám mục hình như đã đi tới thỏa thuận với một hội khai thác mỏ nào đó. Nguyễn Trường Tộ, ngày 17-5-1867, từ Pháp, đã gởi về cho Triều đình Huế một bản báo cáo nhận xét về sự hơn thiệt giữa các khoản cần phải thỏa thuận với các Hội khai thác mỏ1.

Giám mục Gauthier đã đặt mua một số sách và một số dụng cụ cần thiết cho các phòng thí nghiệm và việc giảng dạy trong trường chuyên nghiệp dự định thiết lập tại Huế2.

Bộ Hàng hải và Thuộc địa cũng cung cấp cho Triều đình Huế, theo yêu cầu của Giám mục Gauthier, một số dụng cụ xuất quỹ mua trị giá 3.950 francs và một số dụng cụ xuất kho, tất cả trị giá khoảng 10.000 francs (trích từ ngân sách địa phương của Nam kỳ về khoản các quà tặng)3.

Chuyên san “SEMAINE RELIGIEUSE DE PARIS” (Tuần tôn giáo địa phận Paris) ngày 27-7-1867, viết:

“Giám mục Gauthier ở Paris. Trong lúc lưu lại Paris, giám mục cần thu thập các điều cần thiết cho việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp của vương quốc An Nam và người ta quả quyết là giám mục đã đặt mua ở Hội chợ hơn 100.000 francs hàng hóa vào mục đích này... Trong số những người phương Đông đi theo giám mục có một Kiến trúc sư công giáo với một trí nhớ phi thường. Chính con người có tài năng xuất chúng này đã xây dựng nhà thờ Chính tòa của chúng ta ở Sài Gòn”4.

Nguyễn Trường Tộ, trong thời gian ở Pháp, ngoài văn bản (số 26) nói trên đây, còn thảo Tế cấp bát điều, đề ngày 20-10 năm Tự Đức 20 (tức 15-11-1867). Trong văn bản này, chúng ta thấy là Nguyễn Trường Tộ hết sức xông xáo, gặp gỡ nhiều người, tham quan nhiều chỗ. Từ đó ông càng thấy rõ hơn những việc cần phải làm để đem đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu.

Nhưng tiếc thay, tháng 6-1867, người Pháp, ở Nam kỳ, phản bội Hòa ước 5-6-1862, ngang nhiên đem quân thôn tính ba tỉnh Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên. Triều đình Huế chỉ nghĩ tới việc tìm cách thu hồi lại đất đai bằng cách điều đình, thương thuyết, chứ không muốn nghĩ gì đến việc canh tân đất nước.

Sở Thương Bạc (làm công việc của Bộ Ngoại giao lúc bấy giờ), trong tháng 10-1867, liên tiếp gởi hai văn thư triệu phái bộ về: Không để các linh mục Việt Nam ở lại học, giảm bớt tối đa việc mua máy móc, việc thuê thầy, thuê thợ.

Chiếu hội của Sở Thương Bạc ngày 22 tháng 6 năm Tự Đức 20 (17-7-1867) viết:

“Nay căn cứ hai bản tư văn của giám mục và một bản phúc trình của phái viên, một tập bẩm văn của giáo sĩ, bản chức và các vị chính khanh trong các bộ đồng duyệt đã rõ biết đầy đủ. Hơn nữa việc giám mục và giáo sĩ tự xin đi Pháp là vốn muốn ra sức giúp Triều đình chứ không phải chỉ để tìm người, tìm khí cụ dùng được cho việc công mà thôi, các vị còn muốn làm sao cho hai nước qua lại với nhau, hai bên cùng có lợi, đem tình hòa mục mà đối đãi với nhau. Như thế thực là ý tốt. Nhưng mới đây nguyên soái Gia Định đem binh ép lấy ba tỉnh Long, Giang, Hà, bản chức đem thành tín ra đối xử chứ không chống. Soái phủ nay đã không theo lời giao ước, như vậy là cái tình đối với nhau đã khác trước rồi. Lại nghĩ rằng giám mục và giáo sĩ đã phải đi xa cực nhọc mà nếu cái lòng tốt muốn giúp đỡ lúc ban đầu không được toại ý, thì thật lấy làm tiếc. Nay nói rõ hết.

“Còn việc mướn người khai hoang, nếu thấy có ai quả thật vì đời hiếu danh, dạy vẽ cho các phương pháp khai thác mỏ và chế tạo dụng cụ mà tiền thuê vừa phải, không yêu sách thái quá, thì liệu thuê một vài người thôi, không nên mang nhân công về cho tốn phí nhiều. Đồng thời người ấy phải là người đáng tin cậy, chắc chắn không có tình riêng tráo trở. Tương lai hoặc có mướn hay thôi không mướn nữa là do bản quốc lượng xét được hay không được, chứ không nên ồn ào gây rắc rối. Nay giám mục và giáo sĩ hãy xét liệu thuê mướn và phải bảo đảm sẽ không có gì trở ngại về sau mới được. Bằng không thì khoản này hãy đình chỉ.

“Còn về bàn máy in ảnh thì không cần thiết lắm, để thong thả sẽ sắm sau. Ngoài ra tất cả các máy móc, thứ nào có thực dụng mà cần thiết và giá rẻ như máy điện báo bảy, tám chục quan chẳng hạn, giám mục với giáo sĩ và phái viên xem xét chọn mua một hai cái. Các bộ sách Pháp nên giao giáo sĩ kiểm xem rõ ràng, sách nào thiết dụng mà chưa mua, nên lựa mua ít nhiều. Về giá thuê mướn, giá hàng hóa v.v... cũng nên lựa ra mà ghi rõ để tiện mua sau này. Như thế mới khỏi đi không rồi lại về không. Còn các thứ mua được nên tùy tiện thuê chở về để tiện thanh toán một lần luôn. Linh mục Điều cũng phải về cùng một thể. Không nên lưu lại chờ đợi làm gì. Về phần giáo sĩ khi về nước đi đường bộ để quan sát, thì đến Bình Thuận sẽ được cấp ngựa. Ngoài ra giám mục và các phái viên muốn đi đường thủy hay đường bộ tùy ý...”
5.

Ngày 20-9 năm Tự Đức 20 (17-10-1867), Thương Bạc lại gởi văn thư như sau:

“Nay tiếp được một tờ phúc văn của giám mục, một tờ hóa đơn và bản sao hai tờ phúc văn lần trước, bản chức đã cùng các vị chính khanh trong các Bộ đã duyệt xong và đã rõ. Nhưng theo phúc văn nói là đã gởi hai lần phúc văn mà đã 5 tháng chưa được hồi âm, hơn nữa hai lần phúc văn đó: Một nói về khoản đã chọn được người làm việc mong trên quyết định, một nói về việc đã lựa mua các thứ máy móc. Bản chức đã xét rồi và theo thứ tự chiếu phúc gởi qua soái phủ Gia Định để chuyển lại. Nay chiếu theo hai bản sao phúc văn này, thì sự lý cũng như nhau thôi, không cần phải nói lại rườm rà. Duy trong đó có một tờ nói đã chọn được hai linh mục giỏi về hóa học, vật lý và các môn thiên văn, địa lý. Họ đều là thuộc hạ của giám mục đang chờ để cùng về kinh đô. Hơn nữa hai linh mục này đều là người trong đạo giáo rất đồng tâm đồng chí với giám mục, chứ không phải như người trong các hội khác. Nếu thế thì cứ giao cho họ theo nghề mà dạy tưởng cũng có ích cho thực dụng. Khi giám mục về nên đem hai linh mục cùng về thì tốt. Còn ba người về nghề binh bị, tơ sợi, đốt đèn, thì chưa cần thiết lắm, xin đừng mướn. Về khoản các sách vở, đồ vật đã mua xong, cứ như đơn mua nói cũng khá đủ dùng, thì hãy thuê chở về. Ngoài ra, không nên mua thứ gì thêm. Sau này nếu cần gì, thì nhờ giám mục gởi mua cũng được. Lại nữa trong phúc văn lần này, nói hai phái viên là Trần Văn Đạo v.v... không chịu được lạnh mùa đông nên bệnh. Giám mục nên thu xếp cho họ sớm về trước để khỏi bị lạnh gắt vào giữa mùa đông năm nay. Giám mục và giáo sĩ cũng nên sắp đặt xong mà về cho khỏe...”6.

Qua hai văn bản trên đây, chúng ta thấy là Triều đình Huế đã hạn chế mục tiêu chuyến công tác của Nguyễn Trường Tộ và Giám mục Gauthier, một phần vì sợ tốn kém, một phần vì sợ phiêu lưu rắc rối.
________________________________________
1. Xem di thảo số 26.
2. Xem phụ lục VI: Bản kê khai các sách và dụng cụ do Giám mục Gauthier mua.
3. Theo báo cáo của Giám đốc các thuộc địa ngày 14-6-1867: Để giúp Triều đình Huế thiết lập một đài khí tượng tại Huế, ngoài những khí cụ và dụng cụ có trong Kho bản đồ và sơ đồ của Bộ, còn đề nghị mua thêm:
    Machine électrique 250 frs
    Machine pneumatrique grande avec accessoire 1000 frs
    Télégraphe autographe LeNoir 1000 frs
    Appareil à gaz éclairant 1000 frs
    Microscope solaire 300 frs
    Deux microscopres Composés 400 frs
                                               3950 frs.

4. Kiến trúc sư Công giáo nói đây chính là Nguyễn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ xây nhà nguyện Dòng Thánh Phaolô ở số 4 Tôn Đức Thắng ngày nay. Nhà thờ Chính tòa, tức Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, được đặt viên đá đâu tiên tháng 10 năm 1877.
5, 6. Xem Lê Thước, tlđd. Phụ lục II.

Logged

...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM