OldBuff
Moderator

Bài viết: 3022
Vì nhân dân quên mình
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 05:56:27 PM » |
|
"Cầu Canal des Rapides bị tấn công": Canal des Rapides là Sông Đuống nên đoạn bôi đỏ gọi là Cầu Đuống
|
|
|
|
|
Logged
|
Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 06:04:39 PM » |
|
cám ơn anh cho biết thêm, e cũng đã gúc rồi, trên ấy nó đưa ảnh cầu Long Biên làm em phân vân không giám dịch liều kính mong các mem tiếp tục đóng góp
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 06:45:28 PM » |
|
Bay đến Hà Nội và thoát về Không lực Hoa Kỳ trên bầu trời Bắc Việt Nam 1966-1973 Chương 1 Câu hỏi hóc búa Cuối thế kỷ XX, sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ ở Châu Âu và mất động lực ở Châu Á, người Mỹ vẫn chưa nhất trí về nguyên nhân những gì họ phải chịu ở Việt Nam. Không có sự can thiệp của Mỹ, những người cộng sản đàng hoàng giành lấy kiểm soát toàn bộ Việt nam, Lào, và Campuchia từ tay người Pháp trong thập kỷ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Thắng lợi muộn màng của cộng sản năm 1975 gây tổn thất lớn đối với các nước Đông Nam Á và Hoa Kỳ. Nhưng bên cạnh của giết chóc đã nổi lên một Đông Nam Á giàu có, phi cộng sản. Trong sự kình địch lâu dài giữa Việt Nam và Thái Lan, cuộc chiến tranh Việt Nam giúp Thái Lan vươn lên phía trước về kinh tế bằng dòng chảy đô la từ các căn cứ không quân Mỹ ở đó. Sự nổi dậy của những những người cộng sản Thái Lan yếu ớt, trong lúc Cộng sản Việt nam chiến đấu trước hết chống lại bộ máy chiến tranh của Mỹ; sau đó chống lại quân xâm lược Trung Quốc và đồng minh cộng sản Campuchia của họ (đã giết hại hàng trăm nghìn người Campuchia); và cuối cùng chống lại sự trì trệ của giới lãnh đạo già nua tinh thông đánh nhau hơn là xây dựng kinh tế. Trong cuộc chiến tranh Việt nam, không quân Mỹ và các quân chủng anh em không thể tránh được câu hỏi tiến hành chiến đấu như thế nào cho tốt nhất trong vòng hạn chế bởi khả năng kỹ thuật, bởi địa hình của Đông Nam Á và bởi tính phức tạp của địa chính trị thế giới – như qua nhận thức của tổng thống Lyndon Johnson và Richard Nixon. Việc Johnson từ chối đề nghị dùng pháo đài bay B-52 ném bom những mục tiêu Bắc Việt Nam dẫn đến máy bay của không quân và hải quân phải gặm nhấm những mục tiêu do tổng thống vạch ra. Trong chiến dịch ném bom Sấm Rền dài đằng đẵng trên bầu trời Bắc Việt Nam từ tháng 3-1965 đến tháng 11-1968, Johnson hạn chế sử dụng B-52 ở Bắc Việt Nam, chỉ ném bom các kho hàng và đường vận tải gần biên giới Nam Việt nam và Lào. Thậm chí các cuộc tập kích B-52 vào Bắc Việt nam mãi đến tháng 4-1966 mới được tiến hành. Trong thời gian ấy, B-52 đang rải thảm các khu rừng rậm của Nam Việt nam với hy vọng giết những người cộng sản nổi dậy và các đơn vị chính quy Bắc Việt nam muốn lật đổ chính phủ thân Hoa Kỳ(1).
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 07:06:35 PM » |
|
Sau khi thất bại trong việc ủng hộ người Pháp đánh bại cuộc nổi dậy của những người cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Mỹ mới chặn Bắc Việt nam tại vĩ tuyến 17. Tại Nam Việt nam, Hoa Kỳ cố gắng xây dựng một đất nước mới dưới sự cai trị của Ngô Đình Diệm - một người dân tộc chủ nghĩa, đã từng phải chôn người anh bị những người cộng sản sát hại. Không may, Diệm là tín đồ thiên chúa giáo trong một đất nước những người theo đạo Phật chiếm số đông (ở Việt nam, tôn giáo pha trộn Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo). Cuộc nổi dậy của những Phật tử dẫn đến cuộc đảo chính quân sự với cái chết của Diệm và dẫn đến các cựu chiến binh do Pháp đào tạo nắm quyền. Cuối cùng, tướng Nguyễn Văn Thiệu vượt lên tướng không quân lòe loẹt Nguyễn Cao Kỳ. Sự liên quan của Thiệu và Kỳ với chế độ thực dân Pháp đã nhộm đen chính quyền của họ ngay từ khởi đầu. Những phàn nàn của hộ với nhà cầm quyền dân tộc chủ nghĩa bị cắt đứt có mặt ngày càng tăng của Mỹ ở Nam Việt nam và công luận Mỹ đảm bảo rằng Bắc Việt Nam không bị đe doạ. Thiệu và Kỳ không thể đưa ra một đề án thống nhất Việt nam - chỉ có chế độ cộng sản Bắc Việt Nam mới làm được điều này. Trong khi Hoa Kỳ chứng tỏ quyết tâm Mỹ hoá cuộc chiến tranh ở Nam Việt nam với nửa triệu lính Mỹ, cũng như máy bay, lính Mỹ bị cấm xâm lược Bắc Việt Nam. Tổng thống Johnson không muốn liều lĩnh trước sự can thiệp Trung Quốc, người đã đánh bật lính Mỹ ra khỏi Bắc Triều Tiên năm 1950. Nhưng Bắc Việt Nam chuyển từ ủng hộ cuộc dậy sang xâm lược toàn diện Nam Việt Nam. Mặc dù cuộc xâm lược này không xảy ra cho đến năm 1972 và 1975, chính phủ Nam Việt Nam và Mỹ hành động với suy luận cuộc xâm lược có thể đến sớm hơn. Trong khi chờ đợi, ít nhất 50 nghìn quân chính quy Bắc Việt Nam đang hoạt động ở Nam Việt nam trước năm 1967. Đây là sức mạnh lớn của cộng sản mà những người đối lập không thể chĩa vào sự nổi dậy ở Nam Việt nam mà không phải trả với sự đe doạ từ Bắc Việt Nam (và ngược lại).
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 07:17:00 PM » |
|
Đối lập với cộng sản khai thác nhược điểm của đối thủ, chính quyền Johnson thậm chí còn cấm đánh sang vùng cán xoong của Lào, nơi Bắc Việt Nam đưa lính và đồ tiếp tế vào Nam Việt nam. “Đường mòn Hồ Chí Minh” trở thành một mạng đường ngang dọc cho các xe vận tải chạy ban đêm dưới làn bom Mỹ, và sự bắn phá của máy bay AC-130 (Phiên bản cải tiến từ máy bay vận tải và được gọi là “gunships”). Phía bắc vùng cán xoong, sức mạnh của không quân Mỹ giúp chính phủ Lào bảo vệ mình khỏi cuộc tấn công của cộng sản. Hiệp định Geneve năm 1962 đã đảm bảo tính trung lập cho Lào, và chính phủ của đất nước bị bao vây còn lựa chọn duy trì hình ảnh tưởng tượng rằng Lào không bị sử dụng làm đường dây hậu cần cho cộng sản. Vì vậy, chính phủ Lào không muốn nhận một số lượng bộ binh Mỹ công khai vào để cắt đứt con đường mòn Hồ Chí Minh - nhưng đồng ý sử dụng không quân với mục đích này. Không quân Mỹ (giống như bộ đội Bắc Việt) tỏ ra với công chúng rằng họ không chiến đấu tại Lào. Sự hiện diện công khai của Mỹ cũng tạo cho Liên Xô tránh đương đầu với Hoa Kỳ tại Lào. Tình huống này là một trong bí mật mở của cuộc chiến tranh Việt nam thuyết phục nhiều người Mỹ rằng chính phủ của họ không chân thực. ***
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 10:00:11 PM » |
|
Chính phủ Thái Lan cũng đóng vai trò riêng trong cuộc chiến im lặng. Máy bay của không quân Mỹ cất cánh từ các căn cứ ở Thái Lan không được phép ném bom Nam Việt Nam, và không quân Mỹ được yêu cầu phải giả vờ rằng các phi vụ của họ ném bom Bắc Việt Nam và Lào xuất phát từ các căn cứ tại Nam Việt Nam. Tới tận 1967, một thời gian dài sau khi những chiến dịch không kích từ Thái Lan trở nên công khai, chính phủ Thái Lan mới chấm dứt sự tưởng tượng và cho phép các phi vụ B-52 từ Thái Lan ném bom những mục tiêu tại Nam Việt Nam. Tới lúc đó, những phi công Mỹ ở Thái Lan không công khai, trừ những cơ hội hiếm hoi khi họ được đưa về Sài gòn họp báo để chứng minh rằng những phi vụ của họ ném bom Bắc Việt Nam được xuất phát từ Nam Việt Nam. Một số phi công thích sự công khai này, nhưng những người khác xem đó là xúi quẩy sau khi tư lệnh phi đoàn 67 không quân chiến thuật, trung tá Robinson Risner, sau khi xuất hiện trên bìa tạp chí Time thì ngồi trong hệ thống nhà tù ở Bắc Việt nam; ông bị bắn rơi ngày 16-9-1965. Không quân Mỹ không hoàn toàn hài lòng với việc Thái Lan không muốn máy bay triển khai tại đó ném bom Nam Việt Nam, kể từ khi chính sách này có thể gạt bỏ không lực khỏi nhiệm vụ ném bom Bắc Việt Nam và Lào. Mãi tới tận 1968 Thái Lan mới cho phép máy bay chiến đấu đậu ở đó không kích những mục tiêu ở Nam Việt Nam và chỉ ở vùng phía bắc gọi là Vùng chiến thuật I. Trừ phi đoàn không quân chiến thuật 366 ở sân bay Đà Nẵng thuộc Vùng chiến thuật I, máy bay chiến đấu đóng ở Nam Việt Nam hiếm khi liều lĩnh bay sâu vào Bắc Việt Nam. Bộ binh và thuỷ quân lục chiến yêu cầu không lực Mỹ ở Nam Việt Nam hơn bao giờ hết. Tám triệu tấn bom đạn ném xuống Đông Nam Á, hơn nửa số đó ném xuống Nam Việt Nam; hơn một triệu tấn xuống Bắc Việt nam và hơn hai triệu tấn ở Lào. Mặc dù con số này gây ấn tượng khi so sánh với gần bốn triệu tấn Mỹ và Anh ném xuống chiến trường trong thế chiến II, đa số bom trong thế chiến II ném xuống các thành phố - không giống Đông Nam Á đa số bom ném xuống rừng rậm, và thêm vào đó là tám triệu tấn đạn pháo Mỹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 10:00:30 PM » |
|
Máy bay Mỹ tấn công Bắc Việt Nam và Lào cất cánh phần lớn từ căn cứ không quân ở Thái Lan và tàu sân bay ở Vịnh Bắc Bộ. Cao nguyên Korat trải dài tới sông Mekong (bắc Campuchia) và vùng cán xoong ở Lào, cách Thái Lan và Việt nam 70 dặm. Không quân Mỹ sử dụng ba sân bay ở đông Thái Lan gần sông Mekong, và bốn sân bay tại Bangkok, cách vịnh Thái Lan chừng 300 dặm về phía tây. Khoảng cách từ những sân bay phía tây Thái Lan và Hà Nội là 500 dặm. Tuỳ thuộc vào vị trí của sân bay và những mục tiêu, các máy bay từ Thái Lan vào ném bom Bắc Việt Nam kéo dài từ một tới ba giờ. Thời kỳ đầu chiến tranh, chỉ có ba căn cứ ở Thái Lan có đường băng đủ dài để máy bay phản lực chứa đầy bom có thể sử dụng thuận tiện: Don Muang, phía bắc thủ đô Bangkok; Takhli, nằm cách 100 dặm về phía bắc sông Chao Phraya Bangkok; Korat, nằm ở tây nam cao nguyên Korat, cách Bangkok 100 dặm về phía tây bắc. Tốt nhất vẫn là sân bay Don Muang, nhưng từ khi Don Muang trở thành sân bay Bangkok, chính phủ Thái Lan không muốn cho phép không quân Mỹ ở đó. Trừ một vài máy bay tiêm kích, vận tải, và tiếp dầu, Thái Lan sử dụng Don Muang cho chính không quân của mình chủ yếu là máy bay F-86 cũ của Mỹ. Tại Takhli và Korat (Thái Lan) nhanh chóng bị chìm trong gần mười nghìn quân nhân Mỹ và hơn một trăm máy bay F-105 Thần Sấm. Lực lượng này liên tục được bổ xung, vì F-105 là máy bay cường kích chủ yếu của không lực Hoa Kỳ sử dụng trong trong chiến dịch Sấm Rền, và hơn ba trăm F-105 bị bắn rơi tại Bắc Việt Nam và Lào (xem thống kê). Sự tổn thất còn tệ hơn nếu không có sự bảo vệ của máy bay hỗ trợ. Hai tá máy bay điện tử EB-66, thí dụ, sử dụng chung tại sân bay Takhli với những máy bay F-105 và cố gắng gây nhiểu rađa địch từ xa; những máy bay EB-66 bay quá chậm để sống sót trên những khu vực được bảo vệ tốt ở Bắc Việt nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 10:29:13 PM » |
|
Trong những năm 1950, không quân Mỹ tập trung xây dựng khả năng phát động chiến tranh hạt nhân. Khi đó, Bộ tư lệnh không quân chiến lược thu hút phần lớn nguồn của quân chủng, và Bộ chỉ huy không quân chiến thuật tiêu gần hết phần còn lại để phát triển khả năng ném bom hạt nhân của mình. Máy bay F-105 được thiết kế cho mục đích này nhưng thay vì mang bom hạt nhân trong khoang nó mang bom thông thường trong cánh. Đôi cánh khá nhỏ của F-105 giúp nó đạt được tốc độ khá cao ở sát mặt đất; khi bay tại độ cao lớn, nó lại làm giảm tính cơ động của F-105. Các phi công đặt các biệt hiệu khó nghe cho máy bay F-105 như “Xe truợt chì” hoặc phổ biến hơn “Huỵch” - một biệt danh ở Đông Nam Á trở thành trìu mến hơn xúc phạm. Năm 1964 không quân Mỹ gắng gượng dùng “Huỵch” làm đội biểu diễn ở triển lãm không quân và Thunderbirds kết thúc nhanh chóng và chẳng vẻ vang gì. Nhưng chiến tranh đã rèn lòng kiêu hãnh gắn liền giữa phi công và những “Huỵch’ của họ. Tuy F-105 không cơ động lẹ làng trong không chiến, nhưng nó có thể mang nhiều bom hơn những máy bay khác của không quân Mỹ năm 1966 và bay nhanh hơn máy bay Bắc Việt tại tầm thấp. Chỉ có một loại tiêm kích của Không quân có thể đối chọi với phòng không Bắc Việt Nam la loại máy bay McDonnell F-4 Con ma II mới hơn và cơ động hơn (phát triển trên cơ sở máy bay hải quân trên tàu sân bay McDonnell FH-1 Con ma sản xuất cuối những năm 1940). “Con ma” biệt danh không phù hợp cho máy bay hai động cơ lớn, nổi tiếng với những vệt khói đen trên trời cao. Chỉ khi dùng chế độ tăng tốc F-4 mới có thể tránh được đám khói luôn để lộ vị trí máy bay. Tuy thế, “Con ma” là một trong số ít tên chính thức được các phi công dùng. “Con ma” đảm nhận phần lớn các phi vụ ném bom ban đêm, vì nó có hai phi công tốt hơn là “Huỵch” với một phi công. Vài người bị diễu trong các tên “Con ma” bằng bức tranh biếm họa một người bé nhỏ buồn cười (hình tam giác của máy bay) với áo choàng, mũ rộng vành và dày ten-nít. Trong không chiến ban ngày với máy bay địch, các phi công lái Con Ma phải thừa nhận một sự thật rằng máy bay của họ chẳng có gì liên quan đến tàng hình.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Một, 2010, 10:40:16 PM gửi bởi t2ncdn »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 19 Tháng Một, 2010, 10:24:33 PM » |
|
Dù nặng gần bằng F-105 một động cơ, Con ma có 2 động cơ và cánh rộng hơn cho phép nó lấy độ cao nhanh hơn và ưu điểm này phải trả bằng cái giá tiêu thụ nhiều nhiên liệu và tầm bay ngăn hơn. Về một khía cạnh nào đó, Con ma ít được chuẩn bị cho không chiến hơn Thần Sấm, thời kỳ đầu chiến tranh, Con ma chưa được trang bị súng máy. Hải quân đã phát triển máy bay Con ma để bảo vệ hạm đội bằng tên lửa điều khiển ra-đa Sparrow chúng có thể tấn công máy bay địch tại khoảng cách xa hơn một dặm - nếu radar có thể “khoá” mục tiêu trong khi tên lửa bay. Trên bầu trời Bắc Việt Nam, địa hình phức tạp có thể ảnh hưởng đến hệ thống dẫn đường bằng radar; Trong bất cứ trường hợp nào, mật độ tập trung cao của máy bay hải quân và không quân bắt buộc các phi công phải nhận dạng máy bay địch bằng mắt trước khi tấn công - thường phải đưa máy quá gần để phát huy hiệu quả của Sparrow. Dù các tên lửa tìm nhiệt Sidewinder có khả năng tìm được ống xả đuôi máy bay địch ở tầm khá gần, phi công Con ma đôi khi nhận thấy quá gần với máy bay địch mà lại không có súng. Mãi tới 1967 những F-4 mới bắt đầu sử dụng một súng gắn vào một giá đỡ dưới thân máy bay, và chỉ khi Sấm Rền kết thúc vào năm 1968 thì những chiếc F-4 mới có súng máy bắt đầu triển khai ở Đông Nam Á( ). Trong khi phần lớn Huỵch chỉ có một ghế lái, thì mỗi chiếc Con ma có hai, về mặt lý thuyết phi công thứ hai là người vận hành radar; anh ta có nhiệm vụ khoá radar của mình vào máy bay địch để phi công Con ma bắn tên lửa Sparrow. Hải quân giao công việc cho cho hoa tiêu đưực gọi là “người điều khiển ra-đa đánh chặn”. Trong Chiến dịch Sấm Rền, không quân Mỹ trao công việc radar cho phi công số 2, nhưng chẳng có phi công nào thích ngồi ghế sau cả và không quân Mỹ rút cục học theo cách làm của hải quân. Hoa tiêu ngồi ghế sau của không quân được gọi một cách chính thức là “sĩ quan quân giới” (weapon system officer - WSO, đọc là “wizzo”), vì anh ta thường xử lý không chỉ ra-đa tên lửa không đối không mà cả hệ thống ném bom chính xác được phát triển sau này trong chiến tranh. Một cách không chính thức, anh ta nên có biệt hiệu: “guy in back (GIB)” hoặc đơn giản “kẻ ngồi sau” (backseater). Trên thực tế, những kẻ ngồi sau của Con ma vốn là phi công làm cho những phi công khác ít khó chịu khi được tính điểm bằng với phi công ngồi trước cho mỗi máy bay địch bị hạ. Bắn rơi ít nhất 5 máy bay địch từ lâu đã là cái mốc trong sự nghiệp phi công, được gọi “Át”. Cuối cùng thì đã có những phi công Át đầu tiên của Mỹ trong cuộc chiến này năm 1972, tất cả đều là hoa tiêu ngồi ghế sau của Con ma và cả ba người trong số này (hai của không quân, một của hải quân) trở thành Át. Đầu Chiến dịch Sấm Rền, không quân Mỹ có gần sáu trăm Huỵch và sáu trăm Con ma. Dây chuyền sản xuất Huỵch một chỗ ngồi đã đóng cửa và mỗi năm không quân Mỹ đã nhận hơn hai trăm chiếc Con ma hai ghế lái mới. Trong khi tỉ lệ ngày càng tăng máy bay Con ma được dùng cho nhiệm vụ ném bom ít mạo hiểm hơn ở Nam Việt Nam, Huỵch được dành cho những phi vụ nguy hiểm hơn tại Bắc Việt Nam và Lào. Không những Thần Sấm cũ hơn Con ma, mà việc một Thần Sấm với một phi công bị rơi ít thiệt hại hơn hai phi công. Con ma của không quân hoạt động trên Bắc Việt Nam để bảo vệ Thần Sấm trước máy bay Bắc Việt; những phi vụ ít tốn kém này thu hút nhiều cố gắng của Con ma trong Chiến dịch Sấm Rền. Khi Chiến dịch Sấm Rền kết thúc năm 1968, hơn một nửa Huỵch ra đi, và phần còn lại đã sớm được Con ma thay thế. Khi các máy bay F-4 lần đầu tiên triển khai ở Đông Nam Á năm 1965, đường băng phải được kéo dài tại hai sân bay ở Đông bắc Thái Lan gần sông Mekong. Đầu tiên, máy bay trinh sát Con ma loại RF-4 dùng chung sân bay Udorn với loại RF-101 và F-104, nhưng các loại máy bay cổ này được thay hoàn toàn bằng RF-4 và F-4 năm 1967. Cách Udorn hai trăm dặm dọc theo sông Mekong, sân bay Ubon trở thành căn cứ chính cho Con ma ở Thái Lan. Cách Ubon hai trăm dặm về phía đông qua vùng cán xoong ở Lào, tại Nam Việt Nam, sân bay Đà Nẵng được Con ma sử dụng ném bom Bắc Việt Nam và Lào cũng như Nam Việt nam. Cả thảy, ba sân bay có khoảng 90 máy bay F-4 và hai mươi RF-4 vào năm 1966; những năm sau đó sự hiện diện của Con ma ở Thái Lan tăng lên. Hơn năm trăm F-4 và RF-4 bị mất Đông Nam Á, hai phần ba bị bắn rơi ở Bắc Việt Nam và Lào. Nhiều Con ma và Thần Sấm bị rơi có thể quy cho hai lỗi thiết kế tồi chung của chúng. Lúc bắt đầu Sấm Rền, chẳng có máy bay nào có thùng nhiên liệu tự hàn còn hệ thống điều khiển thuỷ lực với đường dự phòng gần đến nỗi chỉ trúng một viên đạn là máy bay có thể mất điều khiển hoặc nổ thùng nhiên liệu. Thùng nhiên liệu tự hàn tất nhiên là nặng hơn và các nhà thiết kế máy bay cố gắng giảm trọng lượng vốn đã nặng của máy bay bằng thùng nhiên liệu nhẹ hơn. Trong khi một số Thần Sấm cuối cùng cũng có thùng nhiên liệu tự hàn và hệ thống điều khiển được xắp xếp an toàn hơn, Con ma duy trì tính cơ động bằng thùng nhiên liệu do nhẹ hơn, nhưng dễ tổn thương hơn. Những Con ma đời sau cải tiến bằng cách thêm hệ thống lái điện dự phòng.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 21 Tháng Một, 2010, 09:55:08 PM » |
|
Những phi công bị bắn rơi có nhiều cơ hội sống sót. Khoảng một phần ba được cứu thoát ở Bắc Việt Nam, và phần đông sống sót sau nhiều năm bị giam cầm. Cũng một số đông hơn được cứu thoát tại Lào, nơi phòng không địch yếu, ít gây nguy hiểm cho máy bay đến cứu. Nhưng trong cuộc trao đổi tù binh năm 1973, chỉ có 13 người Mỹ bị bắt tại Lào về nước. Trong số hơn năm trăm phi công bị rơi ở đó, khoảng một phần ba không rõ số phận ra sao; một số có lẽ bị lính cộng sản Lào giết vì những tù binh gây ra quá nhiều phiền phức, hoặc lính Bắc Việt Nam giết (lực lượng này giả vời như không có mặt tại Lào). Trước khi trực thăng tại Udorn liều mạng bay vào Lào hoặc Bắc Việt Nam, những phi công phải báo vị trí và được máy bay cánh quạt Douglas A-1 Skyraiders (“Spads” tên lóng do phi công gọi theo tên loại máy bay Pháp được các phi công Mỹ lái trong Thế chiến I) bảo vệ. Cộng với phi đoàn A-1 tại Udorn, một phi đoàn khác tại Nakhon Phanom nằm cắt ngang sông Mekong từ đường mòn Hồ Chí Minh tại vùng cán xoong ở Lào. Không quân Mỹ mở “NKP” (như người Mỹ gọi một căn cứ mới) có đường băng bằng ghi thép (do bị rỉ sau này thay bằng ghi nhôm). Chỉ máy bay cánh quạt Spads có thể dùng NKP thường xuyên, nhưng máy bay phản lực có thể hạ cánh khẩn cấp và nhiều máy bay bị trúng đạn ở Bắc Việt Nam có thể dùng NKP để hạ cánh hoặc ít nhất cho phép tổ lái nhảy dù để được cứu.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
|