dongadoan
Thành viên

Bài viết: 7441
Cái thời hoa gạo cháy...
|
 |
« vào lúc: 14 Tháng Một, 2010, 07:41:46 PM » |
|
Topic này được mở ra để phục vụ cho việc post những tài liệu liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam (1945-1975) đang có trên Internet và đã được các thành viên của diễn đàn dịch, hiệu đính và sưu tầm ảnh minh họa.
Mở đầu cho topic là cuốn "To Hanoi and back" do bác ngao5 dịch, hiệu đính là các thành viên t2ncdn,...
Cám ơn bác ngao5 và các bạn!
|
|
|
|
|
Logged
|
Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #1 vào lúc: 15 Tháng Một, 2010, 07:14:52 PM » |
|
Bay đến Hà Nội và thoát về Wayne Thompson Không quân Hoa Kỳ với Bắc Việt Nam 1966-1973
Chương trìng Bảo tàng và lịch sử Không quân Hoa Kỳ Washington, D.C. 2000 Tài liệu được công bố của thư viện quốc hội Thompson, Wayne, 1945- Không quân Hoa Kỳ với Bắc Việt Nam 1966-1973/Wayne Thompson p. 24 cm. Bao gồm ca trích dẫn và mục lục. 1. Xung đột Việt Nam, 1961-1975—các chiến dịch không quân, Mỹ. 2. Hoa Kỳ. Không quân-Lịch sử-Xung đột Việt Nam, 1961-1975. Lời tựa Chẳng có kinh nghiệm nào ngấm vào suy nghĩ của giới không quân Mỹ hơn chiến dịch không kích Bắc Việt Nam. Nhờ đó, hai thập kỷ sau tại những sa mạc Tây Nam Á, Không quân Mỹ có thể tránh được chủ nghĩa leo thang đã từng phải trả bằng nhiều sinh mạng và phi cơ ở các khu rừng rậm của Đông Nam Á. Từ cuốn sách này, bạn đọc sẽ thông cảm với những người từng ném bom Bắc Việt Nam, họ đã làm được việc khó mà kết quả cuối cùng là có thể biến không quân Mỹ thành một công cụ hữu hiệu trong chiến tranh vùng Vịnh. Cuốn sách này là phần tiếp theo của cuốn Leo thang thất bại: Không chiến trên bầu trời Bắc Việt, 1965-1966 (Gradual Failure: The Air War over North Vietnam, 1965-1966) do tác giả Jacob Van Staaveren viết mà chúng tôi cũng sẽ công bố và xuất bản. Tấc giả Wayne Thompson kể lại việc dùng bài học thất bại để phát triển sức chiến đấu của quân chủng – một quân chủng có cơ hội tốt hơn để thể hiện sức mạnh không quân tiềm tàng năm 1972. Tiến sĩ Thompson bắt đầu nghiên cứu đề tài của mình khi làm quân dịch tại Trạm tình báo không quân ở Đài Loan trong chiến tranh Việt Nam. Ông dành thời gian để viết cuốn “Bay đến Hà Nội và thoát về” (To Hanoi và Back) trong khi làm tại nhóm “Checkmate”, cơ quan tham gia xây dựng kế hoạch không quân của chiến dịch chống Iraq mang tên Bão táp sa mạc. Sau đó, ông đã gặp các phi công và tư lệnh không quân ở Italy ngay sau khi Operation Deliberate Force không kích Bosnia. Trong chiến dịch của lực lượng Liên quân vào Serbia và tỉnh Kosovo, ông trở lại Checkmate vì vậy, ông có thể có cái nhìn sắc sảo về thay đổi của không quân trên từng lĩnh vực. Mặc dù nội dung bao gồm nhiều lĩnh vực nhưng cuốn sách này là cuốn sách về không quân. Tác giả đã cho ra đời một cuốn sách sống động và sâu sắc. Phần trích dẫn ở cuối sách đề cập đến một vài cuốn sách khác nói về không quân Mỹ trong chiến tranh Việt nam. Chương trình lịch sử của chúng tôi không ngừng đánh giá lại quá khứ của quân chủng dưới ánh sáng của những nghiên cứu và triển vọng mới. Chúng tôi mong nhận được phê bình và đóng góp cho lần xuất bản tới. RICHARD P. HALLION Nhà sử học không quân ***
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Một, 2010, 10:26:07 AM gửi bởi dongadoan »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Một, 2010, 08:23:48 PM » |
|
Về tác giả Wayne Thompson là trưởng phòng phân tích tại cơ quan hỗ trợ lịch sử không quân Mỹ ở Washington. Trong chiến tranh Việt nam, ông là làm quân dịch tại một trạm tình báo không quân ở Đài Loan. Ông đã tốt nghiệp Đại học Schenectady, New York, và Đại học St. Andrews, Scotland. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ ngành lịch sử tại Đại học California, San Diego. Tháng 8-1990, Dr. Thompson được đưa vào nhóm vạch kế hoạch không quân tại Lầu Năm Góc. Sau đó ông cố vấn lịch sử cho cơ quan khảo sát không quân tại chiến tranh vùng Vịnh. Năm 1995 không quân Mỹ cử ông nghiên cứu những chiến dịch ném bom bay từ Italy đến các mục tiêu Bosnias, và năm 1999 trong cuộc khủng hoảng ở Kosovo khiến ông quan tâm đến những chiến dịch không kích Serbia.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Một, 2010, 10:14:30 PM » |
|
Tựa Khi tôi bắt đầu nghiên cứu những sự kiện này, tôi nghĩ sẽ viết về một trong những phần đáng buồn nhất của lịch sử không lực Hoa Kỳ. Tôi có lẽ làm như vậy, nhưng dần dần (leo thang giống như chiến dịch Sấm Rền năm 1965-68 ở Bắc Việt) tôi có cái nhìn tích cực hơn về kinh nghiệm của không quân Mỹ ở Đông Nam Á. Chắc chắn đau thương và chết chóc chúng ta thường gắn với chiến tranh gây ra nhiều đau khổ. Rõ ràng không quân Mỹ phải hoạt động dưới sức nặng cực kỳ o ép khiến tự thất bại. Rõ ràng tai tiếng về ném bom kém hiệu quả ở Bắc Việt và làm cho không lực Mỹ dường như trở nên một công cụ ít hứa hẹn. Nhưng sau nhiều năm tìn kiếm cách sử dụng có ích hơn của một không lực yếu kém, chiến dịch Linebacker ném bom Bắc Việt năm 1972 kết hợp thả thuỷ lôi khu vực các cảng biển và những chiến dịch không kích đồng thời ở Nam Việt đã làm nên thay đổi đáng kể, dẫu cho chiến dịch này muộn và ngắn hạn. Sự phục hồi của không lực Mỹ bắt đầu trước khi Bắc Việt nam xâm lược Nam Việt nam năm 1972 và tiếp tục sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975. Cuộc chiến đấu vì Đông Nam Á đã biến không quân Mỹ từ hầu như chỉ trú trọng vào một cuộc chiến hạt nhân tiềm tàng với Liên Xô thành một lực lượng đa năng và linh hoạt trong sử dụng vũ khí thông thường. Nhưng suy nghĩ về không lực Mỹ và Đông Nam Á đã bị bỏ lại sau những tiến bộ về kỹ thuật. Khi mà thất bại cuối cùng thuộc về Nam Việt Nam và Đồng minh Mỹ của họ, những chiến thắng thuyết phục của không lực mới có độ chính xác cao của Mỹ vẫn đang trong tương lai. Mặc dù chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam dùng một số lượng bom ít hơn các chiến dịch đồng thời ở Nam Việt nam và Lào nhưng đầu tư trí tuệ và cảm xúc lại nhiều hơn. Ở đó, lực lượng phòng không tập trung kết hợp với khoảng cách lớn hơn từ các căn cứ ở Thái Lan và Nam Việt nam đã làm những chiến dịch không kích trở nên nguy hiểm và khó khăn hơn. Ban đầu, không quân Mỹ tự xác định mình là lực lượng có khả năng cao nhất trong tấn công những mục tiêu từ các chiến trường trên bộ và trên biển. Ở nhưng nơi bộ binh tác chiến trên chiến trường Nam Việt nam, không quân Mỹ chỉ đảm bảo một phần hoả lực và vận tải hiệp đồng giữa máy bay ném bom hạng nặng và tiếp dầu trên không cho phép không quân Mỹ không kích những mục tiêu xa – một khả năng chưa được sử dụng ở Bắc Việt Nam cho đến gần cuối cuộc chiến. Mặc dù ưu điểm tiến công tầm xa của máy bay ném bom được chia sẻ với tên lửa hạt nhân xuyên lục địa và tên lửa hạt nhân phóng từ tầu ngầm của hải quân, nhưng trong tiến công tầm xa quy ước thì không quân vẫn là phương án được lựa chọn cao nhất. Khi bỏ máy bay ném bom ra khỏi bài toán, sự đóng góp của Không quân mất đi tính độc đáo. Bắc Việt nam bé nhỏ ở xa Vịnh Bắc Bộ, nơi máy bay hải quân có thể xuất phát từ các tàu sân bay và hoạt động không cần tiếp dầu trên tất cả không phận. Máy bay của hải quân và thuỷ quân lục hiệp đồng để đảm nhiệm toàn bộ việc ném bom Bắc Việt Nam. Vì vậy người Mỹ với nỗi lo can thiệp của Trung Quốc đã hạn chế sử dụng máy bay ném bom hạng nặng B-52 của không quân ở Bắc Việt Nam trong suốt cuộc chiến. Mặt khác, vì không quân Mỹ tập trung chuẩn bị chiến tranh hạt nhân, thậm chí chính họ còn sử dụng một số máy bay chiến đấu và vũ khí do hải quân phát triển. B-52 với radar và khoang chứa bom lớn có thể thổi bay nhiều mục tiêu Bắc Việt Nam không những vào ban ngày thời tiết trong trẻo mà còn về ban đêm hoặc trong thời tiết xấu thường xuyên trong năm ở Bắc Việt Nam. Trở ngại chính trị đối với việc phát huy toàn diện khả năng ném bom trải thảm của B-52 khiến không quân phải tìm kiếm khí tài ném bom chính xác, trong mọi điều kiện thời tiết và liên tục cho máy bay tiêm kích. Trước khi chiến tranh kết thúc, bom dẫn bằng laser đã đạt tiêu chuẩn chính xác trên thực tế nhưng bóng đêm và thời tiết xấu vẫn hạn chế hiệu quả của không lực Mỹ. Giai đoạn cuối Mỹ can thiệp vào chiến tranh đem lại vị thế chính trị, quân sự (cũng như công nghệ) thuận lợi hơn cho không lực Mỹ. Câu chuyện không quân ở Đông Nam Á theo hướng tiến bộ mặc dù họ phải chia sẻ trách nhiệm khiến cuộc chiến thất bại. Sự thất bại của Nam Việt Nam trước Cộng sản Bắc Việt Nam năm 1975 chắc chắn mang là thất bại quân sự của Mỹ (cả không quân cũng như lục quân), dù trên thực tế nó đã rút quân khỏi cuộc chiến trước khi Bắc Việt Nam xâm lược thành công . Lào và Campuchia cũng rơi vào kiểm soát của cộng sản và hậu quả là hơn một triệu người Campuchia đã chết. Trải qua thời gian, Cold War (tính cả chiến tranh Việt nam) đã xoá đi thất bại, khi Thái Lan và các nước không cộng sản ở Đông Nam Á trở nên thịnh vượng. Nhưng việc ném bom Bắc Việt nam có thể vẫn còn khuấy động tranh luận nảy lửa trong số người Mỹ đứng tuổi, nhiều người đã lên lên án vì nó quá tàn nhẫn hoặc quá yếu hoặc đơn giản là không thích đáng. Những người này đã tranh luận vai trò không lực Mỹ trong chiến tranh khi đó và kể từ đó tình cảm và sự trừu tượng thường rất lớn. Độc giả những trang này sẽ có cảm giác cụ thể về những chiến dịch không kích và người Mỹ tham gia - từ các phi công đã mạo hiểm với cuộc sống đến các tướng lĩnh chỉ huy họ và cả các chính khách đã đưa họ đến. Bức chân dung do người Bắc Việt vẽ hiển nhiên là rất mờ nhạt vì vậy việc đánh giá tác động của việc ném bom cần rất thận trọng. Cuốn Leo thang thất bại: Không chiến trên bầu trời Bắc Việt, 1965-1966 (Jacob Van Staaveren) đưa câu chuyện của chúng ta qua nhưng cố gắng muộn màng nhằm phá huỷ các kho nhiên liệu cảu Bắc Việt Nam vào mùa hè năm 1966. Trước đó Bắc Việt đã sơ tán xăng dầu từ khu bồn sang các thùng phuy đặt rải rác khắp cả nước. Đây là bài học nữa về sự yếu kém của chiến dịch ném bom leo thang kiểu Sấm Rền. Sau mười tám tháng ném bom, hầu hết các sân bay Bắc Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn, không kể cảng chính ở Hải Phòng và thành phố Hà Nội. Không quân Mỹ đề nghị ném bom các mục tiêu owr các khu vực trên bằng B-52, nhưng tổng thống Lyndon Johnson hạn chế những cuộc tấn công vào các thành phố lớn suốt nhiều tháng và cuối cùng chỉ cho phép máy bay chiến đấu tấn công những mục tiêu gần đó. Chẳng có tổng thống nào trước đây lại nhúng tay vào lựa chọn mục tiêu chi tiết và chiến thuật như vậy. ----------------------------- Bạn t2ncdn để ý những chỗ tôi sửa nhé!
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Một, 2010, 05:44:25 PM gửi bởi t2ncdn »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Một, 2010, 04:34:32 PM » |
|
Cho đến 1972, khi tổng thống Richard Nixon đã rút lực lượng Mỹ ra khỏi khu vực Đông Nam Á, B-52 vẫn chưa thả bom gần Hà Nội và Hải Phòng. Lúc đó, những thành phố này vẫn được coi là để dành, chiến dịch Linebacker tương phản với Sấm Rền. Không phải là vai trò lớn hơn của B-52, mà là các công nghệ mới của bom laser, cho phép máy bay chiến đấu tiêu diệt cầu và các mục tiêu một cách nhanh chóng với ít bom thay vì liều mạng tập kích bằng nhiều máy bay chiến đấu. Kinh nghiệm đáng khích lệ sau nhiều năm thất bại cay đắng của không quân và sau những năm tái thiết của Bắc Việt Nam. Khoảng thời gian 1968 (nhiệm kỳ thời tổng thống Johnson) và 1972 (Bắc Việt nam xâm lược Nam Việt Nam) Bắc Việt Nam bị ném bom rất ít. Thật ra, tướng John Lavelle bị chỉ trích khi làm tư lệnh Tập đoàn không quân số 7 sau khi một nhân viên làm báo cáo giả giấu một số những cuộc tập kích nhỏ vào sự chuẩn bị Bắc Việt Nam.
Tướng Lavelle là một trong những người đáng nhớ mà độc giả sẽ gặp ở đây. Chưa bao giờ tôi có dịp may gặp ông, nhưng tôi quen nhiều người trong cuốn sách này. Họ hào phóng dành thời gian và hiểu biết; tôi đặc biệt cám ơn Hiệp hội các phi công chiến đấu châu thổ sông Hồng đã mời tôi tham gia họp mặt và cả chuyến thăm căn cứa cũ tại Thái Lan năm 1987. Tôi tự hào vì có lợi thế quen được nhiều nhà sử học được viện dẫn trong tài liệu này. Mỗi người trong số họ đều đáng được cảm ơn riêng nhưng danh sách sẽ rất dài và có thể tôi lại để sót ai đó. Tuy thế, tôi vẫn muốn giới thiệu một vài ý tưởng về việc hình thành cuốn sách như thế nào.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Một, 2010, 05:33:22 PM gửi bởi t2ncdn »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #5 vào lúc: 16 Tháng Một, 2010, 05:35:54 PM » |
|
Thầy Armin Rappaport ở Đại học tổng hợp California, San Diego, là người hướng dẫn tôi trong giai đoạn đầu làm nghiên cứu sinh về sự can thiệp của Mỹ vào châu Á và vẫn là một người bạn khi chương trình nghiên cứu sinh của tôi bị chiến tranh Việt Nam gián đoạn do tôi phải làm quân dịch tại một trạm tình báo không quân tại Đài Loan. Sau khi hoàn thành luận án về giám sát quân sự của Mỹ tại tỉnh Mono, Philíppin, tôi chuyển sang công tác tại không quân. Xếp đầu tiên của tôi trong chương trình lịch sử không quân là ông Warren Trest, một trong những nhà sử học có nhiều nghiên cứu nhất của không quân. Trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam, sau khi ông Jacob Van Staaveren về hưu, tôi theo Warren đến Washington và tham gia với nhóm của đại tá John Schlight ngay trước khi họ giải thể bỏ lại Bernard Nalty và tôi. Cả Bernie và tôi đều có sách đang viết dở về Việt Nam, nhưng phần lớn thời gian chúng tôi phải làm trong các chương trình khác. Khả năng bản thảo của tôi được phát hành là rất thấp. Vào tháng 8-1990 tôi tham gia nhóm kế hoạch chiến dịch không quân “Checkmate” của đại tá John Warden tại Lầu Năm Góc. Và thế là tôi trở thành Cố vấn lịch sử cao cấp cho thư ký nghiên cứu không lực tại vùng Vịnh của không quân dưới sự chỉ đạo của ngài Eliot Cohen. Một số đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu là cựu chiến binh tại Việt Nam (Richard Blanchfield, Paul Bloch, Alexander Cochran, John “Joe” Guilmartin, Richard Gunkel, Thomas Keaney, đại tá Emmett “Mike” Kiraly, đại tá David Tretler và Barry Watts) và câu chuyện của chúng tôi thường về cuộc chiến trước đây. Khi tôi trở lại to cơ quan cũ sau ba năm vắng mặt, việc công bố cuốn bản thảo về Việt Nam xem ra có vẻ khả thi. Kết thúc Chiến tranh lạnh đã tạo cơ hội để cho ra một ấn phẩm không bị xếp độ mật của công trình nghiên cứu nhiều tập về chiến tranh vùng Vịnh. Một chút về chiến tranh Việt nam hình như vẫn còn bí mật, và tôi đã hoàn thành bản thảo đầu tiên trong một năm. Bay đến Hà Nội và thoát về không phải những từ cuối cùng về đề tài này thậm chí không phải là những từ cuối cùng của tôi về nó. Cuối cùng, tôi mong muốn làm hoàn thiện bộ sách nhiều tập của không quân trong chiến tranh với một tập có tính nghiên cứu. Trong cuốn sách này, về những chiến dịch trên bầu trời Bắc Việt Nam, tôi chủ yếu dựa vào báo cáo của Không quân. Mặc dù tôi cũng đã cân nhắc khi sử dụng tài liệu tại thư viện Lyndon Baines Johnson ở Austin, Texas, nhưng tôi vẫn chưa dùng đến các tài liệu của Richard Nixon, Melvin Laird, hoặc Henry Kissinger. Quan điểm của tôi về Tham mưu trưởng liên quân, Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, và Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Viet Nam (MACV) căn bản dựa trên chính sử cũ.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #6 vào lúc: 16 Tháng Một, 2010, 06:11:03 PM » |
|
Trong khi tài liệu nghiên cứu của tôi vẫn còn bị xếp dạng mật, tôi có sự may mắn được góp ý của các nhà sử học của các quân chủng khác: ông Graham Cosmas (người viết lịch sử MACV), ông Mark Jacobsen (một giáo sư tại Học viện Chỉ huy – Tham mưu Thuỷ quân lục chiến, người viết tập Hải quân của chiến dịch Sấm Rền), và ông Jack Shulimson (tác giả của ba tập trong bộ Thuỷ quân lục chiến trong cuộc chiến tranh). Tài liệu của tôi cũng được ông David Humphrey đọc cẩn thận khi hướng dẫn tôi các tài liệu mở rộng về chiến tranh Việt Nam ở thư viện Johnson trước khi ông sang Bộ Ngoại giao để biên tập tập Việt Nam trong “Những mối quan hệ ngoại giao của Hoa Kỳ”. Sau khi giải mật, tài liệu còn nhận được góp ý từ một số độc giả có kiến thức như: ông David Mets, ông Marshall Michel, ông John Sherwood, ông Warren Trest, ông Barry Watts, ông Kenneth Werrell và ông Darrel Whitcomb.
Khi tiến hành nghiên cứu cho cuốn sách này, tôi thường gọi điện cho một số cá nhân ở các quân chủng và cơ quan khác. Bên cạnh những người đã được đề cập trên có Edward Marolda và Bernard Cavalcante bên Hải quân đã chia sẻ những kiến thức mở rộng về cuộc chiến tranh, cũng như Dale Andrade, Jeffrey Clarke, Vincent Demma và William Hammond bên Lục quân. W. Hays Parks thuộc Phòng Luật quốc tế Bộ Tham mưu Lục quân đã cung cấp tài liệu nội bộ trong nhiều năm. Tại Bộ Tham mưu liên quân, Walter Poole và Willard Webb luôn sẵn sàng giúp đỡ. Thomas Johnson, Gary Keeley và Henry Schorreck ở Cục An ninh quốc gia; Deane Allen và Carrie Thompson ở Cục Tình báo quốc phòng; Robert Destatte ở Cục tình báo quốc phòng và sau này ở Văn phòng Tù binh và người mất tích; J. Kenneth McDonald ở Cục Tình báo trung ương đã có những giúp đỡ vô giá. Merle Pribbenow, một chuyên gia về Việt Nam về hưu đã hào phóng chia sẻ cho tôi các bản dịch chính sử của Hà Nội.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Một, 2010, 07:22:07 PM gửi bởi lonesome »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #7 vào lúc: 16 Tháng Một, 2010, 06:31:29 PM » |
|
Viết sử trong Không quân là một quá trình tích lũy bắt đầu bằng tài liệu do các nhà sử học thực địa thu thập, tiến hành phỏng vấn và viết báo cáo.
Hàng trăm báo cáo và hàng nghìn tài liệu đi kèm đã được dùng cho cuốn sách. Tôi mang ơn các nhà sử học thực địa, những người đã làm công việc khó nhất và tạo điều kiện cho tôi viết cuốn sách này. Tôi cũng được tạo thuận lợi bởi Cục Nghiên cứu Lịch sử Không quân tại căn cứ Maxwell, Alabama. Quý Cục không những lưu trữ và phân loại tài liệu mà còn tiến hành hàng trăm cuộc phỏng vấn liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Phần lớn các cuộc phỏng vấn do Hugh Ahman và James Hasdorff thực hiện; Sau khi về hưu, Tiến sĩ Hasdorff trở lại và thực hiện phỏng vấn các cựu những tù binh chiến tranh cho Học viên Không quân, và tôi cũng biết ơn Duane Reed ở thư viện Học viện đã cung cấp các bản lưu cũng như những giúp đỡ tận tình khác. Không phải không có người của Cục Nghiên cứu lịch sử giúp đỡ tôi trong các đề án. Về những người này, ít nhất tôi phải cảm ơn Thomas Dean, Archie Difante, Judy Endicott, Lynn Gamma, Richard Gamma, Robert Johnson, James Kitchens, thượng sĩ Barry Spink và Warren Trest; cũng như Robert Young, người đã ở Cục trước khi ông chuyển đến Trung tâm Tình báo không quân quốc gia Wright-Patterson, Căn cứ không quân Ohio với tư cách là một nhà sử học.
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Một, 2010, 07:20:41 PM gửi bởi lonesome »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #8 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 05:04:31 PM » |
|
Tôi thường xuyên khai thác các đồng nghiệp tại Văn phòng ở Washington của chương trình lịch sử Không quân - trong trường hợp này cụ thể là Vicky Crone, Sheldon Goldberg, William Heimdahl, Yvonne Kinkaid, Marcelle Knaack, thiếu tá John Kreis, Eduard Mark, Karen Fleming Michael, trung tá Vance Mitchell, Walton Moody, Bernard Nalty, Jack Neufeld, Diane Putney, đại tá John F. Shiner, George Watson, đại tá George Williams và Richard Wolf. Trong hai mùa hè tôi đã nhận đưựoc sự giúp đỡ của các nghiên cứu sinh kiệt xuất: Học viên sĩ quan Robert Cummings của Học viên không quân Mỹ nghiên cứu về hệ thống đường sắt của Bắc Việt, và Janis Gibbs của trường William và Mary khảo sát phản ứng của báo chí Mỹ với những chiến dịch không kích Bắc Việt Nam. Người hướng dẫn chính của tôi là Herman Wolk. Tôi không thể hoàn thành tài liệu này nếu không có sự giúp đỡ của thầy và ba cguyên viên của chương trình lịch sử Không quân: thiếu tướng John Huston, Richard Kohn, và Richard Hallion. Việc công giải mật tài liệu của tôi được thiếu tá thiếu tá William Coburn trong cơ quan giải mật tài liệu Khôgn quân phụ trách. Tôi rất may mắn khi tài liệu của tôi được đặt và bàn tay đầy thử thách của David Chenoweth, một biên tập viên có kinh nghiệm nhất về chiến tranh Việt nam. Cuối cùng, tôi cũng muốn nhắc đến những người có ảnh hưởng khích lệ nhất đó là Clarence và Elaine Thompson, ngững người đã mang tôi đến trái đất này khi ông là hoa tiêu trên máy bay B-24 Liberator ném bom nước Đức. Lillian Hurlburt Thompson đã kết hôn với tôi trước khi tôi viết bản thảo, cùng đến với tôi ở Đài Loan, trở thành một nữ thương nhân quốc tế và đã giúp tôi xây dựng bối cảnh học thuật cho các nghiên cứu của tôi về chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
t2ncdn
Thành viên

Bài viết: 148
|
 |
« Trả lời #9 vào lúc: 18 Tháng Một, 2010, 05:50:38 PM » |
|
Mục lục trang Lời dẫn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………………..iii Lời tựa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………………v 1 Câu hỏi hóc búa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………….3 2 Chiến thuật mới, Chiến lược cũ. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………37 3 Leo thang trong thử nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………..67 4 Thời bất bình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………………………95 5 Hỗ trợ cho Sấm Rền . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………………………121 6 Bảo vệ phản ứng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………………153 7 Tù nhân và những người sống sót khác . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………….175 8 Chuyện của Lavelle . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………….199 9 Linebacker . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………………...219 10 Cuối cùng là B-52 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………..255 11 Tiếng vọng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ,……………………….. .281 Phụ lục Bản đồ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………….. . 293 Bảng tổng kết . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………. . . . 299 Ghi chú . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………… . . 315 Thuật ngữ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………. . . . . . . . 361 Tiểu sử. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …..…………………….. . . 363 Danh mục . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ... ………………. . . . . 399
Minh họa Bản đồ Đông Nam Á . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………. . . . . . . 295 Miền Bắc Việt Nam . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ….. . . . . . . . . 296 Hà Nội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………. . . . . . . . 298 Ảnh Trung tướng William W. Momyer và Đại tướng John D. Ryan . . . . . . . . . . . . . . . 117 Nguyen Cao Ky, Trung tướng William W. Momyer, và Đại tướng John P. McConnell . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………….. . . . 117 Trung tướng William W. Momyer, Đại tá. Robin Olds, và Đại úy John B. Stone . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………... . . . . . . . . 117 Tên lửa Sparrow và Sidewinder . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………. . . . . . . . . . . 118 Máy bay F–105 tại căn cứ Không quân Korat . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 118 Nhà máy gang thép Thái Nguyên bị tấn công. . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 118 Ném bom sân bay Phúc Yên . . . . . . . . . . . . . . . ……… . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 119 Cầu Đuống (Canal des Rapides) bị tấn công . . . . . ……………. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 119 Bay qua cầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 119 Máy bay F–105 bị thương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …. . . . . 120 Tên lửa SA–2 của Bắc Việt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………. . 120 Má bay MiG–21 của Bắc Việt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……… .. . 120 Trung tướng Gerald W. Johnson . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ….. . . . 211 Melvin Laird, Đại tướng George S. Brown và Ellsworth Bunker . . . . . . . ….. . . . 211 Đại tướng John D. Lavelle . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . … . . . .. 211 Đại tướng John W. Vogt và phi công F–111 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ... . . .. 211 ĐẠi tướng J.C. Meyer . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . 211 Máy bay F–4 hạ cánh ở Căn cứ không quân Udorn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 212 Đại tá Scott G. Smith, Đại úy. Richard S. (Steve) Richie, và Đại úy Charles B. DeBellvue . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………………………… . . 212 Pháo thủ phòng không Bắc Việt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………….. . . . . . 212 Jane Fonda và pháo thủ phòng không Bắc Việt Jane ở Hà Nội . . . . . . . . . . . . . . . 212 Máy bay trinh sát RF–4 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……………. . . . . 213 Nhân viên đọc không ảnh không quân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 213 Máy bay trinh sát không người lái và máy bay mẹ DC 130 . . . . . .. . . . . . . . . . . . . 213 Máy bay kiểm soát ra đa EC–121 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………… . . . . . . . 213 Tiếp dầu trên không . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .….. . . . . . . . . . . 214 Bom la-de lắp trên F–4 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………….... . . . . 215 Cầu Thanh Hóa bị bom la-de đánh sập . . . . . . . . . . . . . . .. . …………………... . . 215 Nhà máy điện Hà Nội trước và sau khi bị ném bom la-de. . . . . …………... . . . . . 215 Lắp bom lên B–52 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………………. . . . . . . . 216
Bay đến Hà Nội và thoát về Máy bay B–52 tại Căn cứ không quân Andersen . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 216 Máy bay B–52 tại Căn cứ không quân U-Tapao. . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . 216 Máy bay B–52 hạ cánh ở Căn cứ không quân U-Tapao. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 216 Ga Gia Lâm and Lang Giang sau khi bị ném bom . . . . . . . . . . . . . . . . . . …… . . . 217 Phố Khâm Thiên, Hà Nội và Bệnh viện Bạch Mai sau khi bị dính bom . . . . … . . 217 Nhà tù của Bắc Việt . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………………... . 218 Các tù binh được tha . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………….... . . . . 218 Tù binh Mỹ ở Hà Nội . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . …………. 218 Cựu tù binh trên máy bay C–141 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 218 Cựu tù binh và vợ trong lễ kỷ niệm đám cưới . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ………. . . 218
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Một, 2010, 06:11:31 PM gửi bởi t2ncdn »
|
Logged
|
Đời lính năm hào, không có em nào thương
|
|
|
|