Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: 122 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 - 19/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Năm, 2012, 04:02:38 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vì sao có cuộc chiến "ba ngàn ngày không nghỉ"?  (Đọc 13077 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:45:46 PM »

 
1- Những ngày chiến đấu giữa vòng vây:


Nhân loại vừa bước qua một cuộc chiến kéo dài, thiệt hại lớn nhất: Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945). Từ đó "Trật tự hai cực Ianta" đã được thiết lập và từng bước phát triển. Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế của tất cả các nước có chủ quyền, được thành lập từ 26/6/1945 đã có những vai trò nhất định. Tuy nhiên, do lập trường , bản chất giai cấp của nhà nước khác nhau nên có sự khác biệt giữa "cực" Liên Xô và "cực" Mĩ, dần hình thành sự đối đầu gay gắt giữa hai "cực", dẫn đến sự đối đầu giữa hai khối Đông-Tây, hình thành cuộc "Chiến tranh lạnh" và cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

"Cực" Liên Xô luôn làm hậu thuẫn, là chỗ dựa  cho phong trào Cách mạng, cho hòa bình thế giới. "Cực" Mĩ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá Cách mạng, âm mưu vươn lên vị trí "thống trị" thế giới. Đế quốc Mĩ, âm mưu "đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do", "chống lại "sự đe dọa" của chủ nghĩa cộng sản", vươn lên ngôi vị bá chủ thế giới, đã ra sức giúp đỡ bọn phản động Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, Lý Thừa Vãn ở Hàn Quốc, Bảo Đại ở Việt Nam; đồng thời giúp Anh đánh Mã Lai, giúp Pháp tái xâm lược Việt Nam. Sự đối đầu 2 cực đã chi phối hoạt động chính trường thế giới và ít nhiều đã ảnh hưởng đến Việt Nam chúng ta.

Tại Trung Quốc, tuy đã có Hiệp định Song Thập Quốc - Cộng kí 10/10/1945 nhưng do dựa vào Mĩ, ngày 20/7/1946 Tưởng đã phát động cuộc tấn công quy mô lớn vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo làm bùng nổ cuộc nội chiến. Như vậy, vào lúc này chưa có quốc gia nào, kể cả Liên Xô và Đông Âu, công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta. Do đó có thể nói khi đó  chúng ta vẫn ở tình trạng "Chiến đấu trong vòng vây" , chưa liên hệ, chưa nhận được sự chi viện giúp đỡ của Cách mạng và nhân dân tiến bộ thế giới .  Đến tháng 4/1947 ta mới đặt Cơ quan đại diện của Chính phủ tại nước ngoài đầu tiên ở Băng Cốc (TháI Lan) và đến tháng 1,2/1950 Trung Quốc,Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận Chính phủ VNDCCH ta mới phá được thế bao vây,cuọc kháng chiến được đẩy lên mọt bước..

Những vấn đề quốc tế và khu vực nêu trên đều có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực đến cuộc kháng chiến, đến định hướng xây dựng lực lượng của ta.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:46:46 PM »

2- Tuổi mười sáu Đảng vào bí mật:


Sau khi giành chính quyền vào 19/8 và tuyên bố Độc lập vào ngày 02/9/1945, trong điều kiện trứng nước, chúng ta đứng trước bao khó khăn thách thức, phải đối phó với rất nhiều loại kẻ thù. Để tranh thủ thời gian chuẩn bị, để gạt mũi nhọn tiến công của kẻ thù vào Đảng, ngày 11/11/1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán. Do đó mọi danh xưng về Đảng thời gian này đều không được nói rõ, cần thiết chỉ gọi là "đoàn thể".

Về mặt chính quyền, sau khi được bầu ra tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946, Quốc hội đã họp Kì thứ Nhất ngày 02/3 thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với 10 bộ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch với nhiều thành viên là những nhân sĩ, 4 ghế Bộ trưởng dành cho bọn “Việt Quốc”, “Việt Cách”.

Nhưng sự thật là Đảng không giải tán mà rút vào hoạt động bí mật. Bộ phận công khai của Đảng được xuất hiện với danh hiệu Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Thực hiện sách lược “bôi trắng cái đầu”, Bộ trưởng Quốc phòng giao cho Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng Nội vụ giao cho nhà trí sĩ Huỳnh Thúc Kháng. Về thực chất, Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền và nhân dân, đặc biệt là lực lượng quân đội, công an. Tháng 01/1946 Trung ương Quân uỷ được thành lập do đ/c Võ Nguyên Giáp làm Bí thư có nhiệm vụ giúp Trung ương Đảng lãnh đạo và tổ chức quân đội thì mọi hoạt động của Quân đội đều do Quân ủy quyết định; các công tác lớn của Công an vẫn do đ/c Võ Nguyên Giáp, đ/c Trường Chinh và Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:48:05 PM »

3- Nền cộng hòa  vừa mới khai sinh:

Tổng khởi nghĩa thành công, giành thắng lợi trên cả nước. Nhưng Uỷ ban dân tộc giải phóng được Đại hội quốc dân thành lập trong phiên họp ngày 16, 17/8 tại Tân Trào (Tuyên Quang) chưa về Hà Nội đủ và đó cũng chưa phải là Chính phủ, chưa ra mắt quốc dân đồng bào và thế giới. Vấn đề lập Chính phủ và tuyên cáo về nền Độc lập là cần kíp lúc bấy giờ. Ngày 28/8 Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập trên cơ sở cải tổ Uỷ ban dân tộc giải phóng. Sau khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập (28/8/1945) rồi Quốc hội bầu ra Chính phủ liên hiệp kháng chiến (02/3/1946), nước Việt Nam mới đã có chính quyền thống nhất trên cả nước. Nhưng chính quyền non trẻ đứng trước bao khó khăn thử thách. Khi quân Nhật  đầu hàng Đồng minh, bọn Pháp lẩn trốn sau 9/3 từ Vịnh Hạ Long, từ Vân Nam quay về, số bị Nhật bắt giam ra trại, số nằm im từ ngày đó cũng ngóc đầu dậy. Đó là mối đe dọa từ khi ta vừa khởi nghĩa thành công, sau đó là mối hiểm nguy đến từ sự kiện Đồng minh vào áp giải quân Nhật.

Dưới danh nghĩa quân Đồng minh và được Mĩ bảo trợ, quân đội của Tưởng, Anh ngay lập tức lũ lượt kéo vào nước ta. ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng gồm 4 Quân đoàn "Hoa quân nhập Việt" của tướng Lư Hán ồ ạt vào Hà Nội và hầu hết các tỉnh. Danh nghĩa là "giải giáp quân đội Nhật" nhưng chúng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền tay sai phản động. Nhiệm vụ ấy được đích thân Tưởng Giới Thạch giao cho tên tướng quân phiệt của tập đoàn Quảng Tây là Tiêu Văn đảm trách. Theo chân quân Tưởng, bọn Việt Quốc, Việt Cách kéo về nước thực hiện các vụ bắt cóc, tống tiền, ám sátẶ gây rối loạn trật tự, trị an và mưu toan cướp chính quyền. Lợi dụng tình hình đó, bọn Tưởng vu cáo ta, đe doạ lật đổ chính quyền nhưng vẫn đòi ta cung cấp lương thực, thực phẩm…

ở miền Nam, quân đội của đế quốc Anh do Tướng Goraxay chỉ huy cũng kéo vào "giải giáp quân đội Nhật", bám theo là những đơn vị bộ binh và xe bọc thép của quân đội viễn chinh Pháp, dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương. Lợi dụng tình hình trên, bọn phản động trong nước (Đại Việt, Phục quốc, Trotkis. . . ) cũng ráo riết hoạt động chống phá Cách mạng. Thêm vào đó, số quân Nhật còn lại đã thực hiện hiệu lệnh của quân Anh dùng súng chống lại LLVT của ta.

 Trong khi ấy, tiềm lực mọi mặt của nhà nước  non trẻ chưa được củng cố. Mặt khác, do ảnh hưởng của chiến tranh tàn phá, ảnh hưởng của chế độ cũ nên sản xuất đình đốn, nạn đói đe doạ, ngân sách trống rỗng, tệ nạn xã hội còn phổ biến.
Những vấn đề đó đặt nước Việt Nam mới trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:49:13 PM »

4- Cuộc chiến đấu bắt đầu quyết liệt :

Để tập trung lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam, ta thực hiện "Hoa-Việt thân thiện", chủ trương hoà hoãn, nhân nhượng, đẩy lùi từng bước âm mưu chính trị, quân sự của quân đội Tưởng và tay sai. Đồng thời Pháp cũng cố công tìm một giải pháp chính trị thích hợp là: thương lượng với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, điều đình với Chính phủ ta để đưa quân ra Bắc. Về sự kiện này, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã nhận định: "Trước sau Trùng Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng". Trong bối cảnh đó, Hiệp ước Hoa - Pháp  được ký kết ngày 28/02/1946 tại Trùng Khánh. Đây là sự chà đạp thô bạo chủ quyền độc lập tự do của Việt Nam. Trước tình thế và căn cứ vào so sánh lực lượng khi ấy, BTV TW họp ngày 03/3/1946 đã chọn giải pháp "hoà để tiến". Thực hiện chủ trương đó và để có thời gian củng cố chính quyền non trẻ, xây dựng đất nước, củng cố lực lượng ta buộc phải kí với Pháp Hiệp định sơ bộ 06/3  và sau đó là Tạm ước 14/9 .

 Tận dụng thời cơ đó chúng ta đã tranh thủ mở rộng khối đại đoàn kết; xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân và pháp luật; xây dựng LLVT; khắc phục nạn đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Nhưng không bao lâu, kẻ địch đã bội ước, lấn tới. Ngay từ tháng 4/1946 Pháp đã tấn công phòng tuyến của ta ở Nam Bộ rồi chúng lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kì tự trị” (01/6/1946), ngang nhiên nắm quyền kiểm soát thuế quan ở Hải Phòng.

Cuối năm 1946 chúng tiến công đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, Hải Dương, tiến hành khiêu khích tại Hà Nội. Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp sắp đến giờ bùng cháy trên toàn quốc.

Quân dân ta khẩn trương chuẩn bị nhưng vẫn bình tĩnh chịu đựng, xây dựng củng cố thành quả vừa mới vào bước sơ khai. Để từ ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch, toàn dân, toàn quân ta bước vào thời kì mới, thời kì kháng chiến toàn dân, toàn diện. Tận dụng thời gian để chuyển hoá sức mạnh là chiến thuật khôn khéo, tài tình của Đảng và Hồ Chủ tịch. Sự chuẩn bị đó là điều kiện đảm bảo cuộc kháng chiến giành thắng lợi.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:55:04 PM gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #4 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:15 PM »

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch

Hỡi đồng bào toàn quốc!

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!

Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!

Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946

Hồ Chí Minh

(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)


Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 05:02:15 PM gửi bởi menthuong » Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #5 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 05:06:35 PM »

Lào Cai trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến


LCĐT - Trước ý đồ của thực dân Pháp muốn xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong lúc đó, do điều kiện lịch sử nên Lào Cai vẫn còn nhiều khó khăn...

Sau cách mạng Tháng Tám 1945 không lâu, bọn Quốc dân đảng phản động theo chân quân Tưởng tràn vào chiếm đóng phần lớn tỉnh Lào Cai (trừ Mường Khương, Pha Long và Phong Thổ còn do các thổ ty kiểm soát). Những tháng cuối năm 1946, quân chủ lực của ta phối hợp với các địa phương tấn công bọn Quốc dân đảng và lần lượt giải phóng: Phố Lu (28/10), Sa Pa (8/11), thị xã Lào Cai (12/12), Bát Xát (30/12)...

Giữa bao bộn bề, gian khó của một tỉnh miền núi, vùng cao vừa thoát khỏi ách chiếm đóng của Quốc dân đảng, dưới sự lãnh đạo của Ban Cán sự Đảng, tỉnh Lào Cai tập trung giải quyết những khó khăn, tích cực chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc chống thực dân Pháp. Công việc cấp bách là Ban Cán sự Đảng chỉ đạo việc thành lập chính quyền cách mạng các cấp. Tháng 12/1946, Ủy ban nhân dân cách mạng mang tính chất quân quản cấp tỉnh và huyện được thành lập, trực tiếp đứng ra giải quyết những công việc: ổn định đời sống nhân dân, giữ trật tự an ninh địa phương, khắc phục nạn mù chữ, nạn đói, tuyên truyền chính sách của Mặt trận Việt Minh và đường lối kháng chiến trường kỳ của Đảng.

Ngày 5/3/1947 Đảng bộ tỉnh Lào Cai họp hội nghị bầu Ban Chấp hành chính thức và đề ra nhiệm vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhằm tăng cường lực lượng toàn dân tham gia cách mạng, Tỉnh uỷ chủ trương đưa các thổ ty có ảnh hưởng sâu rộng trong nhân dân tham gia vào chính quyền các cấp. Tuy nhiên, do hiểu rõ bản chất của thổ ty nên để đảm bảo cho chính quyền thực sự là cách mạng, Tỉnh ủy Lào Cai bàn rất kỹ và theo đề nghị của tỉnh, Trung ương và Khu ủy cho phép Lào Cai thực hiện chế độ đặc phái viên bên cạnh chính quyền các cấp. Tháng 4/1947, chính quyền quân quản được bãi bỏ, Ủy ban hành chính và Ủy ban kháng chiến của tỉnh và các huyện được thành lập. Tỉnh ủy chọn những cán bộ giỏi, có năng lực, kinh nghiệm vận động quần chúng giữ cương vị đặc phái viên trong chính quyền các cấp với danh nghĩa là đặc phái viên liên Bộ Nội vụ - Quốc phòng của Chính phủ. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, cán bộ tuyên truyền, giáo dục giác ngộ cách mạng cho quần chúng và đã xây dựng được một số cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào các dân tộc. Trong thời gian này, tỉnh cho huỷ bỏ tất cả các thứ thuế, phu phen, tạp dịch do Pháp, Nhật và Quốc dân đảng đặt ra. Đồng thời tiến hành công tác cứu đói, bán muối, vải giá rẻ cho nhân dân đến tận các thôn bản. Từ đó nâng cao được uy tín mạnh mẽ trong nhân dân, được nhân dân quý mến, ủng hộ.

Trước tình hình quân Pháp mở rộng xâm chiếm tới vùng núi, Tỉnh ủy Lào Cai chỉ đạo tổ chức cho cán bộ, nhân dân quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ kháng chiến: Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Trung ương Đảng, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch, tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh.

Cuối tháng 6, đầu tháng 7/1947, thực dân Pháp hình thành thế bao vây và nổ súng thăm dò chuẩn bị tiến đánh Lào Cai. Thấy Pháp tấn công Lào Cai, các thổ ty trong tỉnh tụ tập tại Mường Khương bàn kế hoạch phối hợp với quân Pháp tấn công cách mạng. Đảng bộ Lào Cai xác định không thể tiếp tục thực hiện kế hoạch lôi kéo thổ ty. Đảng bộ tuyên truyền, vận động nhân dân trong tỉnh chính thức bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ cùng nhân dân cả nước. Cán bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh góp sức người, sức của cùng làm nên chiến thắng 1/11/1950 giải phóng Lào Cai và chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Nguồn: Hải Xuyên (báo Lào Cai) 
Logged

chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3270


No sacrifice, no victory


« Trả lời #6 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2009, 05:40:11 PM »

Thế cuối cùng thì câu trả lời là vì sao? Roll Eyes
Đọc đi đọc lại mà không thấy có gì sáng tỏ thêm cả Tongue
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2009, 09:00:35 AM »

Bài viết sau của Vương Liêm sẽ là một phần lý giải:

Với âm mưu thôn tính nước ta lần thứ hai, sau khi Chính phủ Việt Nam DCCH ra đời ngày 2/9/1945, quân Anh và Tưởng Giới Thạch lợi dụng nghị quyết của hội nghị Posdam (Đức) của các nước lớn Đồng Minh là Anh, Mỹ, Trung Quốc đưa quân vào Việt Nam để giải giới quân Nhật, Trưởng phái bộ Anh và Tưởng Giới Thạch đều ngầm cho thực dân Pháp ngóc đầu dậy nên đã lấy vũ khí của quân Nhật giao cho quân Pháp gây áp lực nhiều nơi.

Ngày 8 và 10/9/1945, phái bộ Anh buộc ta phải thả những tên Pháp gây rối bị ta bắt trong ngày mít tinh mừng Quốc khánh đầu tiên 2/9 bị giam giữ ở khám Lớn Sài Gòn (nay là Thư viện Khoa học tổng hợp đường Lý Tự Trọng Q.1, TP. Hồ Chí Minh) và gởi thư yêu cầu UBND Nam Bộ giao lại trụ sở cho họ (dinh Thống đốc Nam Kỳ cũ, nay là Bảo tàng cách mạng thành phố gần với Thư viện). Tức nhiên phía Cách mạng không thể theo lệnh chúng. Sang ngày 11/9/1945, tướng Gracy tới Sài Gòn với 2.500 quân Anh và hai tiểu đoàn biệt kích của Pháp. Rõ ràng hơn, Anh lại cho quân Pháp thay thế quân Nhật canh gác một số nơi trọng yếu trong thành phố. Trước tình hình nghiêm trọng này, Đảng bộ, Chính quyền và Mặt trận Việt Minh chuẩn bị ráo riết các biện pháp để đối phó cuộc chiến xảy ra. Ban đầu, ta và Anh cố gắng dàn xếp để tránh đổ máu nhưng ngày càng cho thấy Anh tạo điều kiện cho Phap lấn chiếm thành phố và tăng cường quân lực. Táo tợn hơn, ngày 20/9/1945 phái bộ Anh tuyên bố giữ quyền kiểm soát thành phố, thả hết bọn lính Pháp ra và buộc lực lượng vũ trang của ta phải ra khỏi thành phố. Chiều ngày 22/9/1945, phái đoàn Pháp “lịch sự” mời ông Phạm Ngọc Thạch (đại diện UBHC Sài Gòn) và ông Trần Văn Giàu (đại diện UBHC Nam Bộ) đến dự “bữa tiệc công tác” (un diner de travail). Bên ta hoà hoãn nhận lời nhưng không tới dự.

Trước 0 giờ ngày 23/9/1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm trụ sở UBND Nam Bộ (nay là trụ sở UBND TP Hồ Chí Minh), Sở Cảnh sát, trại Cộng hoà Vệ binh, ngân hàng, khám Lớn v.v… Như vậy, trong vòng ba tuần lễ sau ngày Độc lập 2/9, Anh và Pháp ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta lần thứ hai. Chính quyền cách mạng và nhân dân thành phố phản kháng và quyết chiến đấu để bảo vệ độc lập đất nước. Một hội nghị ở Chợ Lớn với sự có mặt của ông Hoàng Quốc Việt thay mặt Thường vụ Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh, UBND Nam Bộ đứng đầu là ông Trần Văn Giàu đã đi tới quyết định một mặt gởi điện báo cáo gấp ra Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh xin chỉ thị, một mặt phát động nhân dân kháng chiến. Sau đó, một hội nghị kế tiếp ở Chợ Đệm (nay thuộc huyện Bình Chánh) của Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ do ông Trần Văn Giàu chủ trì để bàn việc củng cố, thống nhất các lực lượng vũ trang, thành lập bốn mặt trận “Tiền tuyến vòng ngoài” và xây dựng các đơn vị chiến đấu bao chặt Sài Gòn - Chợ Lớn.

Trên bốn mặt trận, nhiều trí thức đã tham gia chiến đấu, trong đó Mặt trận số 1 miền Đông nam Bộ (Mặt trận tuyến Sài Gòn - Gia Định) có giáo sư Nguyễn Đình Thâu và lực lượng bộ đội của luật sư Thái Văn Lung ở khu vực Thủ Đức tiếp ứng, Mặt trận số 2 là Mặt trận tuyến phía Bắc (Mặt trận Tham Lương) do Nguyễn Văn Tư - một trí thức làm việc ở xưởng Ba Son và là Chủ tịch UBKC Sài Gòn - Chợ Lớn chỉ huy, Mặt trận số 3 là mặt trận tiền tuyến phía Tây (Mặt trận Phú Lâm - Chợ Đệm) có Nguyễn Lưu - một trí thức của Tổng Công đoàn tham gia và Chủ tịch UBKC Nam Bộ Trần Văn Giàu làm chỉ huy trưởng, Mặt trận số 4 là mặt trận tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn (Mặt trận nội thành hay Mặt trận phía Nam) do Nguyễn Văn Trân chỉ huy.

Tại mặt trận phía Đông (cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu) trạm y tế dã chiến được lập tại nhà thương Bà Chiểu (nay bệnh viện Nhân dân Gia Định) do Bác sĩ Trần Văn Quá phụ trách, tập hợp nhiều xe hồng thập tự đi các nới cứu cấp. Tại mặt trận Phú Lâm bác sĩ Nguyễn Văn Hoa tổ chức có các học sinh sinh viên làm tình nguyện viên cứu thương. Ở mặt trận cầu Tham Lương (nay quận 12) trạm cứu thương đặt ở Bà Quẹo có nhiều bác sĩ, dược sĩ và y tá tham gia. Mặt trận phía Nam, trạm y tế của lực lượng Bình xuyên được thành lập có nhiều y, bác sĩ.

Khắp các đường dẫn ra ngoại thành, tại các cầu, đường chính đều bị lực lượng của ta chốt chặn chặt chẽ với sự tham gia tích cực, nhiệt tình của nhiều nhà trí thức thuộc nhiều ngành bên cạnh lực lượng dân quân hùng hậu dù chỉ với vũ khí thô sơ nhưng đã tạo nên thế trận địa võng làm khốn đốn và khiếp đảm cho quân Pháp, Anh nhiều ngày. Trong thời gian này, có một chi tiết khá quan trọng, quân Pháp, Anh ngang nhiên vào bệnh viện Chợ Rẫy tịch thu khối Radium là chất phóng xạ nguyên tử của phòng xạ trị. Bác sĩ Phan Tấn Thiệt và một số sinh viên tổ chức phái đoàn gặp đại diện Pháp, Anh đòi lại. Sau đó, Bác sĩ Ngô Quang Lý giao khối Radium ấy cho ông Huỳnh Văn Tiểng chuyển ra Bắc cho Bộ Y tế ta. (Theo “Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954”, trang 92).

Vương Liêm (Nguyệt san Đại đoàn kết)
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #8 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2009, 09:05:16 AM »

Để chặn bước tiến của quân thù, phá âm mưu của Pháp lôi kéo đồng bào ta vào vùng địch buôn bán ta quyết định tấn công thị trấn Cái Răng thuộc Châu Thành, Cần Thơ (bị Pháp tái chiếm ngày 02/10/1945).

 Đội cảm tử của Quốc gia tự vệ cuộc Cần thơ gồm 7 đ/c do Trưởng ty Lê Bình trực tiếp chỉ huy, ngày 12/11/1945 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đã tiêu diệt và làm bị thương 47 tên giặc. Bên ta 5 chiến sĩ trong Đội cảm tử và 3 du kích hy sinh, trong đó có người Trưởng ty tài ba và quả cảm.

Vì ý nghĩa to lớn của trận mật tập này, sự hy sinh dũng cảm, cách đánh táo bạo của các chiến sĩ nên ngày 20/11, trong phiên họp Chính phủ Hồ Chủ tịch đã đề nghị ra Sắc lệnh truy tặng công danh cho 5 liệt sĩ. Đó là những Liệt sĩ CAND đầu tiên, những liệt sĩ đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời họ cũng là những liệt sĩ được đích thân Hồ Chủ tịch đề nghị, Chính phủ truy tặng công danh sớm nhất.
Nguồn: Lịch sử CAND
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 374


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #9 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2009, 02:01:06 PM »

Thế cuối cùng thì câu trả lời là vì sao? Roll Eyes
Đọc đi đọc lại mà không thấy có gì sáng tỏ thêm cả Tongue
Câu trả lời có rải rác trong các bài viết và đặc biệt đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch
...
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
...
Hà Nội, ngày 19 tháng 12 năm 1946
Hồ Chí Minh
(Bút tích lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam)

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_k%C3%AAu_g%E1%BB%8Di_to%C3%A0n_qu%E1%BB%91c_kh%C3%A1ng_chi%E1%BA%BFn
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM