Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: 122 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu (19/5/1890 - 19/5/2012)
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Năm, 2012, 06:31:21 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long  (Đọc 15417 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
Lancelot
Thành viên
*
Bài viết: 42


« Trả lời #80 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2010, 08:03:56 AM »

Trích dẫn
Tôi không hiểu bạn nói vậy là ra sao nữa.Rõ ràng không phải là sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi để rồi muốn đạo phật trở thành quốc giáo.Theo tôi được biết thì đạo phật thời kì này phát triển khá mạnh ở các nước châu á,và việc triều Lí lấy đạo phật làm quốc giáo không phải là điều tất yếu trong lịch sử.

lời tôi nói là trích từ cụ... Ngô Sĩ Liên ấy chứ. Grin

nhưng việc nhà chùa đưa được cụ Lý lên dễ dàng như vậy cũng góp phần khẳng định rằng thế lực nhà chùa đương thời là rất lớn. Nhà Lý biến Phật giáo thành quốc giáo chỉ là hợp thức hóa trên giấy tờ 1 thực tế đang diễn ra thôi, đúng không?  Grin
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1169



« Trả lời #81 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2010, 08:41:42 PM »

Trích dẫn
Tôi không hiểu bạn nói vậy là ra sao nữa.Rõ ràng không phải là sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi để rồi muốn đạo phật trở thành quốc giáo.Theo tôi được biết thì đạo phật thời kì này phát triển khá mạnh ở các nước châu á,và việc triều Lí lấy đạo phật làm quốc giáo không phải là điều tất yếu trong lịch sử.

lời tôi nói là trích từ cụ... Ngô Sĩ Liên ấy chứ. Grin

nhưng việc nhà chùa đưa được cụ Lý lên dễ dàng như vậy cũng góp phần khẳng định rằng thế lực nhà chùa đương thời là rất lớn. Nhà Lý biến Phật giáo thành quốc giáo chỉ là hợp thức hóa trên giấy tờ 1 thực tế đang diễn ra thôi, đúng không?  Grin

Bác ợ, cụ Ngô Sĩ Liên bị ảnh hưởng của Nho học / Khổng Giáo nên mới có giọng ngỏ ý chê bai thế thôi mà.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 372


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #82 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2010, 11:13:49 AM »

....sau khi đã có sự tra cứu kĩ về các cứ liệu lịch sử, tôi thấy rằng, Thăng Long – Hà Nội đâu chỉ có 7 lần đổi tên, mà thực tế là 12 lần. Cụ thể vào những năm sau đây:

    * Lần thứ 1: năm 1010 được đặt tên là Thăng Long do Lý Thái Tổ (1).
    * Lần thứ 2 : năm 1014 đổi tên là Nam Kinh , cũng do Lý Thái Tổ(2).
    * Lần thứ 3 : từ năm 1279 đến 1284, đổi tên là Trung Kinh, do vua Trần Nhân Tông(3).
    * Lần thứ 4 : năm 1400 , đổi tên là Đông Đô dưới thời Hồ Quý Ly(4).
    * Lần thứ 5 : năm 1408, đổi tên là Đông Quan dưới thời giặc Minh xâm lược (còn gọi là Minh thuộc)(5).
    * Lần thứ 6: năm 1430 , đổi tên là Đông Kinh dưới thời Lê Thái Tổ(6)
    * Lần thứ 7 : năm 1466, đổi tên là Trung Đô, thời Lê Thánh Tông(7).
    * Lần thứ 8 : năm 1469 , đổi tên là Phụng Thiên, cũng do vua Lê Thánh Tông (Cool
    * Lần thứ 9: từ năm 1740 – 1786, tên gọi Đông Đô, thời Lê Hy Tông (9)
    * Lần thứ 10 : sau năm 1789 đại phá quân xâm lược Thanh, đổi tên là Bắc Thành, do vua Quang Trung đổi tên (10).
    * Lần thứ 11 : năm 1805 lại đổi tên là Thăng Long (11), nhưng không phải là chữ (昇 龍) của Lý Thái Tổ mà lại là (昇 隆), với ý nghĩa là hưng thịnh, chữ (隆) được lấy từ niên hiệu của Gia Long, đặt lên Thành Thăng Long như mang ý nghĩa khẳng định quyền làm chủ và uy quyền lên vùng Bắc Hà ngày trước.
    *  Lần thứ 12: Năm 1831, đổi tên là Hà Nội, dưới thời vua Minh Mạng (12).

....
Như vậy tên gọi Thăng Long chỉ chính thức tồn tại trong 4 năm , đồng thờì trong suốt thời kỳ từ nhà Hồ ( 1400 ) sang cuối nhà Lê , đến nhà Nguyễn Tây Sơn cũng không gọi Thăng Long ?
....
Theo http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3m3237nvn1n  và trên http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/footnote07.html#fn_392 thì quả là Đại Việt sử ký toàn thư có chéo việc: “Đắp thành đất ở bốn mặt kinh Thăng Long. Đổi phủ Ứng Thiên(392) làm Nam Kinh”.

Nhưng đã chú giải rõ về Phủ Ứng Thiên (392): Tức phủ Ứng Hòa đời sau, nay là huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Hơn nữa, các tài liệu về lịch sử Ứng Hoà và trấn Sơn Nam cũng không đâu chép Lý Thái Tổ đổi tên Thăng Long!

Như vậy đâu phải Thăng Long chỉ tồn tại 4 năm!
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 372


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #83 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2010, 11:50:16 AM »

Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" có người cho là đã có từ thời Lê Hoàn, chúng tôi học trong lịch sử nhà trường được giảng là bài thơ đó là của Danh tương Lý Thường Kiệt. Dù thế nào, đó vẫn là Bản tuyên ngôn độc lập của Đại Việt và là một áng thiên cổ hùng văn rất đáng tự hào.
Trên tinh thần ấy, tôi "thư pháp hoá" nôi dung bài thơ vắt qua hai triều đại mở đường và củng cố nền độc lập của Đại Việt đưa vào trang này như một chút lòng thành với đại lễ.
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 372


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #84 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2011, 04:59:11 PM »

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai (01/10/1991-01/10/2011), lục tìm lại trí nhớ và các tư liệu có thể tìm được càng thấy rõ: để có diện mạo hình chữ S như ngày nay bao thế hệ người Việt đã đổ nhiều máu xương. Đặc biệt, để có vùng đất “nơi con sông Hồng chẩy vào đất Việt” nội thuộc và ổn định dưới mái nhà chung Việt Nam thì lịch sử đã ghi công lớn của vua tôi, quan quân và thần dân người Việt thời Lý.
 Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử, dù có muốn tổ tiên ta chưa thể mở về Đông (biển) chỉ có thể mở mang lãnh thổ về phía Nam, một phần sang phía Tây và khẳng định chủ quyền tại các vùng “đệm” ở miền Tây, Bắc và căng mình chống lại cuộc “nam chinh” của Thiên triều ở phía Bắc.
Ngược dòng lịch sử, ai cũng biết trung tâm văn minh cổ, nơi phát tích của nhà nước Trung Hoa nằm rất xa Việt Nam. Mãi đến 219 tCn, sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư 屠睢 làm chủ tướng, Triệu Đà 趙佗 làm phó tướng, chỉ huy 50 vạn quân bình định vùng đất Bách Việt ở Lĩnh Nam. 5 năm sau mới hoàn thành là lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Hồ Nam) giáp Đông Bắc Việt Nam. Riêng vùng  giáp với Tây Bắc nước ta ngày nay thì hồi đó đến năm 320 vẫn là nước Điền của thị tộc Thoán 爨, sau đó từ năm 738 là Vương quốc Nam Chiếu 南诏 rồi Vương quốc Đại Lý 大李 (năm 937) mãi đến năm 1276 mới thành tỉnh Vân Nam trực thuộc “Thiên triều” bởi quyết định của Hốt Tất Liệt (Kublai Khan, Khubilai Khan, 忽必烈, 1215–1294).
Do đó quan hệ giữa Việt và Trung thời kỳ Đại Việt mới giành quyền tự chủ là quan hệ của Việt với các lãnh chúa, hay tiểu quốc vùng Hoa Nam và biên giới của Đại Cồ Việt (sau là Đại Việt) khi đó là giáp với Đại Lý (Tây Bắc) và Đại Tống (Đông Bắc).
Trong tiến trình xác lập, giữ vững chủ quyền vùng đất Lào Cai này từng ghi bao dấu ấn lịch sử mà được ghi chép cụ thể nhất là từ thời Lý.
Khi thay nhà Tiền Lê, nhà Lý (李氏, 1009-1225) và rời đô ra Đại La (1010) rất quan tâm đến cương vực Vương quốc, có ý muốn mở rộng những vùng đất mà xưa nay còn chưa phân định rõ và  việc quản lí toàn bộ đất đai vùng Giao Chỉ xưa được chặt chẽ hơn. Lý Thánh Tông (李聖宗,1054-1072) đổi quốc hiệu là Đại Việt 大越, chia cả nước làm 12 lộ, một số phủ, châu. Vùng Tân Hưng xưa được goị là đất Đăng Châu, trại Quy Hóa thuộc châu Chân Đăng, đạo Lâm Tây 林西.
Trong khi họ Lý đang củng cố Vương quyền thì năm 1014 tướng nước Đại Lý 大李 là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long (nay là huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang) và châu Đô Kim (nay là huyện Hàm Yên - Tuyên Quang). Vị Vua khai quốc Lý Thái Tổ (李太祖, 1010-1028) sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.
Về hướng biên giới với nhà Tống, để tự vệ, năm 1014 Lý Thái Tổ cho quan quân lên Cao Bằng đánh dẹp được quân Hạc Thác (là thổ dân vùng Tả giang, Hữu giang, Quảng Tây) do Dương Trương Huệ thống lĩnh xâm phạm cõi bờ. Song do điều kiện giao thông khi đó nên các vùng núi, triều đình Trung ương chưa thể quản lý chặt chẽ được mà vẫn phải dựa vào các thổ ty người bản địa. Thời này, xảy ra việc cha con Nùng Tồn Phúc 穠存福 làm loạn, li khai ở vùng núi phiá Bắc (1038), triều đình đã đánh dẹp, con trai Tồn Phúc chạy thoát. Sau đó Lý Thái Tông (李太宗,1028-1054) đã bắt được rồi tha Nùng Trí Cao (1041) nhưng Trí Cao 穠智高 lại quay ra phản trắc chạy sang cầu quan lại nhà Tống (1048) nên sau này dân gian có câu:
Mở mang, mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy, ta đừng mở mang.
Tệ hại hơn, Trí Cao và các tù trưởng vùng núi đã cấu kết với quan lại nhà Tống 宋氏 đem một số châu, động vùng núi phía Bắc, Tây Bắc dâng cho Tống triều và Đại Lý 大李. Tống nhận đất, đổi tên các động này, nhập vào địa đồ Bắc quốc. Nhưng phò mã nhà Lý là Thân Thiệu Thái, cai quản vùng châu Lạng vẫn kiên cường giữ đất. giữ dân, đánh đuổi quân xâm lược.
 Trong cuộc Nam chinh 1077, thực hiện chiếu của Tống Thần Tông: “Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu, huyện như nội địa”, Quách Quỳ, Triệu Tiết đã chiếm giữ châu Quảng Nguyên (đổi ra Thuận Châu) và các động Vật Ác (đổi thành Thuận An, 順安) và Vật Dương (đổi thành Quy Hoá, 歸化). Mặc dù bị Lý Thường Kiệt 李常傑 đánh đại bại trên phòng tuyến Như Nguyệt 如月, Quách Quỳ phải rời bỏ Trung Châu nhưng không chịu rút khỏi các châu, động đã chiếm ở phía Bắc.
Từ 1078-1086 nhà Lý 6 lần cử sứ giả (Đào Tông Nguyên, Lê Văn Thịnh) đòi lại những châu, động mà quân Tống chiếm giữ (Thuận An- 1062; Quảng Nguyên-1078, Vật Dương, Vật Ác-1081...) hay phân chia lại địa giới (Vĩnh Bình-1083, 1084). Nhưng vua Tống chỉ trả cho 6 huyện và 2 động còn một số động vẫn bị giữ lại, trong đó có Quy Hoá. Việc này một viên cai trị nhà Tống là Hùng Bảng đã có sớ tâu về triều: "Năm Gia Hữu (1057) Nùng Tông Đản đem các động Vật Ác dâng nộp, vua ban tên Thuận An 順安. Đời Trị Bình (1064) Nùng Trí Hội đem động Vật Dương nộp, vua ban tên là châu Quy Hoá 歸化. Trả lời Vua Lý Nhân Tông trong lần đòi đất lần thứ 6 (4/1087), trong Chiếu trả lời đề ngày 22/8/Mậu Thìn (1088), vua Tống Thần Tông đã trịnh thượng xảo biện: "…thủ lĩnh An Nam nhận nhầm vương thổ, tiên đế lại sai quan biện chính chia cõi...Trẫm vâng theo lời dạy của Tiên đế, cốt làm sao cho bờ cõi yên vui…gián chiếu xuống nhiều lần, giảng cực rõ ràng. Các đất Vật Dương, Vật Ác không thể đem bàn trở lại được nữa…".
Vua Lý Nhân Tông viết thư gửi cho vua nhà Tống đòi những vùng đất mà quân Tống còn chiếm đóng sau trận chiến 1076-1077 đã viết: “Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng.” . Đồng thời, để giữ vững chủ quyền và răn đe nhà Tống, vận dụng tư tưởng “Tiên phát chế nhân”, Lý triều đã nhiều lần cất binh sang tận đất Tống thảo phạt (1022, 1059, 1060) đặc biệt là trận tấn công của Lý Thường Kiệt làm cỏ châu Khâm, Liêm, Ung vào 12/1075, 01/1076. Chiến thắng oanh liệt sau lại dùng Biện sĩ bàn hòa để kết thúc chiến tranh. Phương châm vừa đánh vừa đàm được thực hiện rõ và thành công nhất dưới triều Lý. Về phía Đông, năm 1171, 1172, Lý Anh Tông đích thân đi “tuần tra các hải đảo ngoài biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật”.
Tại một số châu động, tuy bị buộc ép vào địa đồ Tống triều nhưng nhân dân các dân tộc trong vùng vẫn ý thức mình là người Việt và cùng chiến đấu để trở về với ngôi nhà Đại Việt.
Trên hướng Tây Bắc, năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông 李英宗 và Tô Hiến Thành 蘇憲誠 đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt. Từ đó vùng đất Lào Cai ngày nay chính thức và vĩnh viễn thuộc về đất Việt để sau đó, những thế kỷ sau lập nên 2 chiến thắng lẫy lừng trên vùng biên ải:
- Vào tháng 8 Đinh Tỵ Nguyên Phong (丁巳元豐,tức tháng 9/1257), được tin quân Mông chuẩn bị tấn công nước ta, Trại chủ Quy Hóa là Hà Khất đã cho người cấp báo về kinh. Đây là cơ sở quan trọng góp phần để quân dân thời Trần đã 3 lần đánh tan đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới hồi bấy giờ. Công trạng ấy và đóng góp của các tù trưởng, thổ hào, dân binh Quy Hoá trong việc chặn đánh quân xâm lược khi tiến sang hay khi rút về được chép trong Trung hưng thực lục 中興實錄.
- Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427), khi ra Đông Đô (1426), Bình Định Vương  Lê Lợi 平定王藜利 chia đất Đông Đô làm 4 đạo và lúc đó vùng Hưng Hoá, Tuyên Quang thuộc Tây đạo. Nhận rõ vị trí xung yếu của vùng Tây Bắc nên từ tháng 9/1426, Lê Lợi đã cho một đạo quân gồm 3.000 quân và 1 voi chiến do Phạm Văn Xảo 范文巧 chỉ huy đã tiến quân lên vùng Gia Hưng, Quy Hoá, Đà Giang vừa giải phóng đất đai, vừa uy hiếp phiá Tây Bắc Đông Quan lại vừa ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang. Tiếp theo,  “Mùa Hạ tháng 4 Vua sai phòng ngự sứ Trần Ban đôn đốc tu sửa ải Lê Hoa (犁花, tức vùng Tf Lào Cai nay)”. Tháng 10/1427, sau khi đánh bại giặc Minh ở Xương Giang, Phạm Văn Xảo chủ trại Quy Hóa cùng Lê Khả 黎可,Lê Trung, Lê Khuyển từ ải Lê Hoa đã tung quân ra phá giặc ở ngòi Nước Lạnh và Đan Xá. Trong trận này ta đã chém hơn một vạn thủ cấp, bắt sống hơn nghìn tên, nghìn ngựa, còn quân giặc chết đuối không kể xiết; Mộc Thạch phải một mình một ngựa tháo chạy. Quân ta lập công lớn, thúc đẩy cuộc chiến đến toàn thắng. Trận này, trong Bình Ngô Đại cáo 平吳大誥, đã được Nguyễn Trãi nhắc đến cả về phương châm tác chiến cũng như tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng Lê Hoa.
Như vậy, sau Lý Thái Tổ (1009–1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072) có nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ("An Nam Quốc vương" cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) …nước Đại Cồ Việt trở thành Đại Việt tuần tự đi lên tạo tiền để các thế hệ sau đánh thắng giặc Minh, Nguyên xâm lược.
Rất tiếc trên địa bàn Lào Cai mới có nơi teoengr niệm ghi công Trần hưng Đạo còn với Vương triều Lý (xác lập chủ quyền chính thức) và nhà Hậu Lê (trận chiến ải Lê Hoa) thì chưa thấy gì đáng kể.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM