Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Một, 2019, 01:18:55 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tây Nguyên ngày ấy  (Đọc 72203 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:20:16 PM »


Đêm hôm đó, dưới ánh sáng đỏ quạch lung lay, khói mù mịt của cây nến cà bông, một thứ nhựa cây anh em nhặt được trong rừng, bọc lại trong lá chuối thành một thỏi dài, dùng để đốt thay cho đèn, tôi chăm chú nghiên cứu tấm bản đồ.

Địa điểm mà Bộ Tư lệnh B3 quy định cho chúng tôi, được đánh dấu bằng một chữ thập trên bản đồ là khu rừng thuộc khu vực Ngã ba biên giới cách phía Tây Nam bản Phi Hà khoảng 10 cây số.

Trên bản đồ, đây là một thung lũng hẹp dọc một khe suối nhỏ chạy từ Bắc xuống Nam, giữa các đường bình độ vòng vèo sin sít của các dãy núi cao.

Nhưng rắc rối nhất hiện nay, chúng tôi ở đâu, nói theo danh từ quân sự là “chỗ đứng chân” hiện nay của chúng tôi là chỗ nào trong những khu rừng rậm bao la này? Vì có biết chỗ ở hiện nay thì mới có thể vạch hướng đi tới địa điểm quy định...

Tôi ngắm nghía bản đồ mà lòng phân vân. Trong vùng rừng núi bao la này, chúng tôi đang ở chỗ nào đây? Bản đồ thì vẽ từ hơn ba mươi năm trước, bao nhiêu thứ đã thay đổi, lấy gì làm chuẩn? Căn cứ vào các địa danh thì vùng này rất ít bản làng có tên trên bản đồ. Mà dù có tên cũng không còn ở nơi cũ.

Những địa danh mới do bộ đội đặt tên như bản Măng Tôn cà chua, thì không có tên trên bản đồ. Những con đường mới mở cũng vậy chưa ghi trên bản đồ.

Cuối cùng tôi nghĩ cái ít thay đổi nhất có thể dựa được trên bản đồ là các ngọn núi, các con sông, con suối...

Tôi chỉ đành dựa vào đoạn đường chúng tôi hành quân, những con sông suối lớn để ang áng nơi ở hiện nay, ghi nhận một số ngọn núi cao trên bản đồ để ngày mai quan sát xem sao...

Ngày hôm sau, may mắn là một ngày đẹp trời. Nhưng đứng trong rừng, dưới những hàng cây cổ thụ ngút ngàn, không thể quan sát được các đỉnh núi cao chung quanh. Chúng tôi đặt hết hy vọng vào con suối khá to chảy ở gần đơn vị, may ra có vẽ trên bản đồ chăng?

Chúng tôi phải mất một ngày lội dọc theo con suối. Cổ tay đeo địa bàn, một tay cầm bản đồ. Tìm hiểu hướng đi của con suối, so sánh với những nét vẽ ngoằn ngoèo trên bản đồ.

Cuối cùng, chúng tôi cũng phán đoán một cách áng chừng, vị trí hiện tại chúng tôi trú quân. Và nếu phán đoán đúng thì chúng tôi phải đi đúng hướng Nam, khoảng 3 ô trên bản đồ, vượt qua một dãy núi nằm chắn ngang, tụt xuống một khe suối, đi theo khe suối khoảng 2km nữa sẽ gặp một con suối chảy ngang theo hướng Đông Tây. Đó là địa điểm quy định để đặt Viện 211.

Sáng sớm hôm sau, bốn anh em chúng tôi lên đường, chỉ mang theo tăng võng, túi gạo, ống coóng để nấu cơm. Mỗi người một khẩu súng AK và vài băng đạn.

Bắt đầu đi từ ngọn đồi sau lưng nơi chúng tôi ở. Thật ngạc nhiên, trên đỉnh các dãy núi nối tiếp nhau, có những con đường mòn thật dễ đi, như có người nào chuẩn bị sẵn. Thực ra đó chỉ do thú rừng đi lâu ngày, thành đường mòn. Thỉnh thoảng gặp một gốc cây to, ở tầm cao hơn đầu người vỏ cây bị bào xơ xác, trơ lớp gỗ, đó là vết tích của những chú voi rừng cọ lưng vào thân cây cho đỡ ngứa... Cạnh đường thỉnh thoảng lại sột soạt tiếng voi đi lại trong rừng làm rung động các lùm cây. Hàng đàn vượn lớn, vượn nhỏ đánh đu, đùa nghịch trên cành cây. Có lúc như ngạc nhiên thấy loại động vật lạ, là chúng tôi mới xuất hiện trong rừng, chúng tò mò, đánh đu chuyển từ cành cây này sang cành cây khác, đuổi theo chúng tôi một quãng dài rồi mới bỏ đi.

Thỉnh thoảng, một con chim kền kền, to như một con chim đại bàng, như giật mình tỉnh sau một giấc ngủ say, nặng nề vỗ cánh phành phạch bay khi chúng tôi đi qua... Thiên nhiên ở đây thật hoang dã. Nhiều khu rừng nguyên thuỷ, hình như chưa từng có bước chân người.

Chúng tôi cứ thẳng hướng Nam mà đi. Cậu Cường đi đầu tay lăm lăm con dao găm, thỉnh thoảng bập ba nhát vào thân cây cạnh đường để đánh dấu đoạn đường chúng tôi đi qua. Buổi sáng đầu tiên chúng tôi đi tương đối thuận lợi, theo con giông đến đỉnh núi đi về phía Nam. Nhưng tới gần trưa, dãy núi chuyển sang hướng Tây, chúng tôi phải cắt rừng, tới sườn đồi, tụt xuống suối, ở chỗ rẽ trên đỉnh đồi. Cường cẩn thận, chặt 3-4 cành cây to chặn đoạn đường không đi và bập nhiều nhát dao trên thân cây để đánh dấu chỗ rẽ.

Chúng tôi giở cơm nắm, nghỉ ăn trưa ở bờ suối, sau đó cứ theo hướng Nam, leo lên sườn đồi đối diện. Ngày hôm sau, chúng tôi vướng vào một rừng giang rậm rạp. Những thân cây giang to bằng cổ tay, chằng chịt đan chặt vào nhau, không thể nào vượt qua nổi. Chúng tôi đi vòng quanh khu rừng leo một đỉnh đồi cao. Ngày thứ ba, tụt sườn đồi, tới một dòng suối nhỏ kẹp giữa hai dãy núi cao, chảy theo hướng tù Bắc xuống Nam. Lội dọc suối độ hai giờ đồng hồ thì gặp một ngã ba suối, có dòng suối to hơn, chảy bắc ngang từ Đông sang Tây. Địa điểm quy định cho Viện 211 đây rồi.

Chúng tôi ở lại địa điểm thêm một ngày, lội lên xuống dọc dòng suối, đi sâu vào hai bên bờ để sơ bộ bố cục Bệnh viện, phân chia vị trí cho các khoa. Chuyến trở về tương đối thuận lợi, do đã biết đường, chỉ một ngày, chúng tôi đã trở về tới đơn vị. Không biết ngày xưa Christophe Colomb tìm ra châu Mỹ được hoan nghênh như thế nào chứ lần này tôi tìm được đường vào địa điểm cho đơn vị được toàn Viện rất hoan nghênh. Đồng chí Chính uỷ Viện, là một người kín đáo, ít bộc lộ, hơi khó tính, ít khi khen ngợi ai, khi nghe cậu Vi liên lạc của tôi chạy sang báo cáo là đã tìm ra đường vào địa điểm cũng vui mừng nói đùa: “Ta sẽ đặt tên con đường này là đường Lê Cao Đài!”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:20:58 PM »


Ngày 18 tháng 5 năm 1966. Trong khi chuẩn bị di chuyển vào địa điểm mới, một tin vui bất ngờ đến với chúng tôi: Tổ đi săn báo tin trong một ngày hạ được ba con voi rừng!

Ngay từ hôm mới vào, học tập kinh nghiệm của các đơn vị trước, để có thức ăn cho đơn vị chúng tôi đã phải trông vào sự cung cấp của rừng. Trên chỉ có thể cung cấp cho chúng tôi gạo và muối và cũng rất khó khăn. Toàn bộ nguồn lương thực, thực phẩm đều phải trông vào rừng. Rừng cho chúng tôi rau, nhưng quanh chỗ ở dần dần rau cũng hết, phải đi xa mới có. Thịt, cá cũng phải trông cậy vào rừng. Thật may là Tây Nguyên rất phong phú về thú rừng đủ các loại. Súng thì sẵn có AK, CKC... Sau này để tiết kiệm đạn phải có quy định là chỉ được phép bắn những con thú to trên 5kg. Không được bắn chim. Nhỏ nhất cũng phải là vượn, giộc.

Một tổ chuyên đi săn đã được thành lập để kiếm thịt rừng cho đơn vị. Bác sĩ Phát, bác sĩ dinh dưỡng của Bệnh viện, là người thích săn bắn ngay từ khi ở miền Bắc, được giao trách nhiệm là tổ trưởng tổ săn. Tổ săn gồm 5 người, chọn trong số thanh niên khoẻ mạnh, bắn giỏi. Một số là người dân tộc, đã quen với việc đi rừng. Sau gần một tháng hoạt động tổ săn đã mang về cho đơn vị một số vượn, lợn rừng... nhưng chẳng thấm thía vào đâu đối với hàng trăm con người trong đơn vị. Nhiều anh chị em hơn một tháng nay chưa được ăn miếng thịt nào...

Đây là lần đầu bắn được voi mà những ba con trong một ngày. Chỉ huy Viện liền cho ba khối, mỗi khối một con voi.

Tuy chưa bao giờ săn được voi, nhưng tôi hình dung được ngay là phải tranh thủ thời gian, lấy thịt thật nhanh, chế biến thật nhanh, trước khi thịt bị ôi. Tôi lập tức họp các Chủ nhiệm khoa của khối Ngoại, cử bác sĩ Huy Đạo, một phẫu thuật viên trẻ, khoẻ làm chỉ huy và huy động tất cả người khoẻ đi lấy thịt. Để động viên mọi người, tôi đưa ra khẩu hiệu: Khoa nào lấy được thịt nhiều thì ăn nhiều. Lấy ít, ăn ít. Không lấy được thì nhịn!

Khẩu hiệu hành động có tác dụng thật bất ngờ. Không khí trong đơn vị sôi nổi hẳn lên. Các khoa cứ ùn ùn cử tất cả những người khoẻ mạnh, mang gùi, dao đi lấy thịt voi. Một số Chủ nhiệm khoa tuy không khoẻ lắm, như anh Cán, chị Đậm cũng khoác gùi đi lấy thịt... Còn số ốm yếu ở nhà cũng không chịu nằm yên. Có cậu vừa dứt cơn sốt cũng ra bờ suối mài dao sèn sẹt, hoặc vào rừng hái củi khô chuẩn bị để nấu thịt voi...

Con voi bị hạ ở cách đơn vị khoảng 3 giờ đi bộ. Luồn rừng, lội suối, tụt một quãng dốc sâu mới tới được nơi con voi chết. Tới được con voi mà không biết cách nào lấy được thịt, da nó dày kinh khủng. Thật không sai khi các nhà sinh học xếp voi vào loài da dày (Pachydemle). Anh Đại chỉ huy đoàn lấy thịt nảy ra sáng kiến: Rạch một nhát vào bụng con voi rồi xẻo thịt từ trong ra... Anh đã đứng trong bụng voi như đứng trong cái thuyền, máu voi ngập tới bắp chân, để khoét từng mảng thịt. Đầu tiên mọi người luộc một nồi đầy thịt voi, ăn vã tại chỗ no nê rồi mới xẻo thịt gùi về đơn vị.

Anh Cán, cũng tham gia đoàn lấy thịt, lấy được một gùi nặng, nhưng mệt quá không sao leo nổi dốc để trở về. Vừa may gặp một chiến sĩ đơn vị bạn đi qua. Anh liền nhờ gùi hộ lên dốc và chia cho cậu ta một nửa...

Đêm hôm đó, toàn đơn vị nhộn nhịp như đêm ba mươi Tết, suốt đêm, các bếp đều đỏ lửa. Chỗ thái thịt, chỗ luộc, chỗ kho, chỗ nướng, chỗ kỳ cạch giã thịt làm ruốc để dành ăn dần. Tôi phải đi hò hét suốt đêm, chỉ sợ lộ ánh sáng làm mục tiêu cho máy bay địch. Toàn đơn vị được một ngày ăn thịt thật thoả thuê mà còn có ruốc dự trữ...

Mặc dầu đã lấy thật nhanh, nhưng cuối cùng cũng chỉ lấy được một nửa con voi ở phía trên, còn bỏ lại một nửa ở phía dưới. Theo anh Đạo “phải có một cái cần trục mới lật lên được”...

Đúng hôm đó, có một cán bộ đơn vị bạn đến liên hệ công tác, các anh rất mừng là đến đúng lúc chúng tôi có thịt voi chiêu đãi... Đúng theo quy định của đơn vị, anh là khách của Chỉ huy Viện thì ở trên Đoàn bộ. Cơ quan Đoàn bộ ở trên một ngọn đồi, chỉ cách chúng tôi một con suối. Tôi ngạc nhiên thấy anh lên Đoàn bộ được một lúc lại trở về quanh quẩn với chúng tôi.

Tôi hỏi tại sao anh không lên ở trên ấy với các thủ trưởng của Viện để tiện làm việc. Anh ngần ngại hồi lâu rồi mới trả lời:

- Trên ấy thối quá!

Tôi trố mắt ngạc nhiên:

- Tại sao lại thối?

- Tại thịt voi!

Anh Kính, Chính uỷ cũng xuống thăm khối Ngoại. Anh hỏi thăm chuyện thịt voi, rồi cứ đi đi lại lại trong sân ra vẻ rất suy nghĩ. Cuối cùng anh bảo tôi vẻ rất bực dọc: “Cũng là con voi, mà ở đây ăn uống ngon lành, lại có ruốc dự trữ, thế mà trên kia thì...”.

Hỏi kỹ ra, mới biết tất cả chỉ do phương châm hành động. Trong khi chúng tôi đưa ra phương châm: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít... để động viên toàn đơn vị tham gia lấy và chế biến thịt voi, thì trên Đoàn bộ các anh lại đưa ra chủ trương tiết kiệm, trước hết phải ăn lòng, sau đó ăn tới xương, rồi mới ăn thịt. Tiết kiệm để dành cho thương bệnh binh. Phải làm tập thể, thịt mang về phải tập trung cho cấp dưỡng chế biến. Không được nấu riêng. Chắc rằng khó có thể tranh luận gì trên lý thuyết về phương châm hành động như vậy. Nhưng kết quả thực tế là anh em lấy được thịt mang về đều quẳng lên bàn cho cấp dưỡng, rồi đi ngủ. Cấp dưỡng chỉ có vài người sức đâu mà chế biến kịp hàng tạ thịt mang về một lúc.

Đơn vị chỉ được ăn một bữa cháo lòng voi. Ôi thứ lòng to và dày như cái săm ôtô, nào có ngon lành gì!

Còn hàng tạ thịt không chế biến kịp, thối um cả khu đồi đứng ngồi chỗ nào cũng có mùi. Viện lại phải huy động anh chị em đi chôn?...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:22:25 PM »


Ngày 20 tháng 5 năm 1966. Trong khi mọi người vui vẻ với thịt voi thì một tin dữ dội đến:

Cậu Hùng, chiến sĩ cảnh vệ, bị voi đạp chết!

Hôm đó, tổ săn cho người chạy về báo tin bắn được voi, và bắn bị thương một con voi khác, thì Hùng đội viên đội cảnh vệ, vừa dứt cơn sốt rét, đang nằm trong lán. Nghe tin mừng quá, xách khẩu súng AK chạy về hướng con voi bị thương và sau đó không thấy trở về.

Đơn vị cho người đi lùng khắp nơi không thấy. Một ngày rồi hai ngày trôi qua đã tưởng Hùng cũng bị lạc rừng như cậu Hưng hôm trước. Cuối cùng, trở lại nơi con voi chết mùi thịt voi thối nồng nặc, nhưng vài trăm mét xa hơn lại thấy mùi thối. Thì ra Hùng chạy gặp con voi bị thương đang hung dữ chạy tới. Không biết có kịp bắn phát nào không, nhưng bị con voi trong cơn điên loạn, đạp chết, và quẳng xác Hùng từ sườn núi bên này vượt qua khe suối cạn, nằm vắt trên ngọn cây ở sườn núi bên kia. Khẩu súng AK bị gẫy gập nằm lăn lóc trong lòng suối.

Chúng tôi hết sức đau lòng. Dường như ở chiến trường ác liệt này, mọi việc đều có thể phải trả giá bằng xương máu.

Ngày 22 tháng 5 năm 1966. Di chuyển vào địa điểm chính thức. Cả khối Ngoại hơn một trăm người, ba lô, quang gánh lỉnh kỉnh, với toàn bộ trang bị, gạo nước, vũ khí trên lưng, rời địa điểm ở tạm để lên đường. Tổ tiền trạm đi đầu dẫn đường, tiếp sau là các khoa, thành một đoàn dài...

Lúc khởi hành, đáng lẽ đưa đơn vị đi theo đường cũ, từ đỉnh đồi ngay sau chỗ ở, thì tôi lại cho lội qua suối, theo giông đồi đối diện. Đó là vì sau chuyến đi tìm đường trở về, nghiên cứu lại bản đồ, chúng tôi cho rằng đi theo con dốc bên kia suối sẽ thẳng hơn và ít dốc hơn. Nào ngờ con đường giông lên đỉnh đồi, sau một hai giờ đi đúng hướng Nam, bắt đầu chếch dần sang hướng Tây. Khi chỉnh lại cắt qua suối sang ngọn núi bên kia thì bị lạc... Đoàn người cứ rồng rắn suốt ngày, leo núi lại xuống đèo...

Anh Lạc, đi cạnh tôi, luôn ôm bụng, nhăn nhó do cơn đau dạ dày. Anh chị em đều mệt vì mang vác nặng, lại phải luồn lách trong rừng. Tôi thì hoang mang, nhiều đoạn không còn biết chỗ đang đứng là chỗ nào trên bản đồ. Có nhiều đoạn phải theo cách làm cũ, tụt xuống suối rồi lội theo dòng suối để so sánh với nhiều đường ngoằn ngoèo vẽ li ti trên bản đồ. Khổ một nỗi, nhiều chỗ bản đồ để trắng, hoặc ghi dòng chữ “... không minh định”.

Tới một đỉnh dốc, anh Lạc mệt quá, ngồi phịch xuống cạnh đường văng tục: “Tao đếch đi nữa... Sao mày không cho liên lạc xuống xem là con suối nào, mà lại lôi cả đơn vị xuống rồi lại lôi lên là làm sao?”.

Tôi cũng mệt lử, bực mình nhưng phải đấu dịu: “Khổ quá, con suối ở Tây Nguyên này, có đâu giống như phố Trần Bình Trọng, nhà mày ở Hà Nội, có biển ghi tên phố treo ở cột đèn đầu phố mà bảo liên lạc chạy xuống nhìn một cái là biết ngay là con suối nào?...”.

Ngược lại, anh Tu, Chủ nhiệm khoa X quang thì thật hồn nhiên, lạc quan, từ sáng anh bị đau bụng vì ăn phải thịt voi ươn thỉnh thoảng lại quăng vội ba lô, ôm bụng chạy vào rừng... Nhưng vẫn vui vẻ. Vừa đi vừa kể chuyện vui, làm cho đơn vị cười rộ lên từng hồi. Những lúc nghỉ anh lại rút trong túi ba lô ra gói ruốc thịt voi, nhúm một chút cho vào miệng nhai tóp tép và tuyên bố “cái miệng ưng thì cái bụng cũng ưng!...”.

Tới một lúc gặp một ngã ba của đường giông lên đỉnh núi, tôi đang phân vân, cùng mấy cậu dẫn đường, trải bản đồ trên mặt đất, ngắm nghía, so sánh với địa hình chung quanh, chưa biết nên đi theo hướng nào, thì anh Tu đề nghị rất to, cho mọi người nghe thấy: “Tôi có cách này...” và nói, anh vừa nhổ một miếng nước bọt to vào lòng bàn tay, rồi lấy tay kia đập đánh bốp lên trên thật mạnh. Nước bọt bắn tung toé ra tứ phía. Anh chỉ theo hướng có giọt nước bắn xa nhất và tuyên bố: “Đi hướng này!”.

Tôi điên cả người vì cách đùa của anh. Nhưng mọi người ồ lên cười làm cho không khí đỡ căng thẳng.

Đêm hôm đó, mọi người phải mắc võng nằm lại giữa rừng. Nhưng dù sao, có đông người, có gạo, thịt voi mang theo nên cũng đỡ lo.

Cả ngày hôm sau lại tiếp tục mò mẫm trong rừng, leo đèo, vượt suối. Tới buổi chiều gặp con suối chạy theo hướng Đông Tây, trông ngờ ngợ quen quen. Lội ngược dòng suối một quãng, gặp một ngã ba suối có dòng suối từ phía Bắc chảy về một vạt rừng bằng phẳng, những cọc phụ buộc vào gốc cây và một bếp lửa cũ còn tro. Đúng là chỗ ngủ đêm của bọn tôi hôm trước. Đúng địa điểm đây rồi!

Như vậy chúng tôi đã phải đi mất hai ngày, đoạn đường đáng ra chỉ phải đi mất khoảng ba giờ...!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:22:59 PM »


Ngày 30 tháng 5 năm 1966. Một tuần liên tục xây dựng nơi ở và cơ sở làm việc cho Bệnh viện. Đầu tiên là làm nhà ở để giải quyết tình trạng tạm bợ nằm võng, căng tăng. Theo kinh nghiệm học được trong chuyến lên làm việc với B3, chúng tôi đưa ra nhiều quy định chặt chẽ cho việc xây dựng.

Để tránh bị máy bay phát hiện, phải chọn những khu rừng thật rậm rạp, có ít nhất ba tầng cây che phủ, ánh nắng giữa trưa cũng không rọi sáng một khoảng rộng hơn cái nia. Không được ở cạnh các con suối to, có vẽ thành nét liên tục trên bản đồ, chỉ được ở cạnh suối nhỏ, thể hiện trên bản đồ bằng những nét đứt quãng.

Để giảm thương vong khi bị máy bay B.52 thả bom rải thảm. B.52 là loại pháo đài bay khổng lồ có khả năng chứa tới ba chục tấn bom. Phải ở thật thưa, lán nọ cách lán kia ít nhất là 30 mét. Mỗi lán không quá sáu người. Chỉ huy đơn vị phải ở mỗi người một lán riêng đề phòng khi trúng bom, không chết tất cả Ban chỉ huy cùng một lúc.

Lán phải làm thấp hơn mặt đất, có một ụ đất cao ngang đầu người che chung quanh để nhỡ có bom nổ gần cũng không bị thương vong. Mỗi lán phải có một hầm kèo, còn gọi là hầm chữ A để nấp khi bị oanh tạc...

Chúng tôi phải có quy định thêm về chỗ lấy vật liệu xây dựng. Không được lấy gần nhà. Không được chất hết cả bụi tre. Khi chặt phải để lại mỗi bụi vài cây tre, đề phòng khi làm nhà xong, thì có những quãng rừng trắng chung quanh làm mục tiêu cho máy bay địch phát hiện.

Sẵn tre nứa ở gần, nên việc làm nhà ở không gặp khó khăn gì lớn. Toàn bộ ngôi nhà đều làm bằng tre nứa. Tre làm cột nhà, làm mái nhà. Tre để thưng chung quanh nhà, làm giường, ghế, bàn...

Trong việc làm nhà thì việc lợp nhà tốn nhiều công nhất. Vào Tây Nguyên chúng tôi học được cách sử dụng nhiều loại vật liệu để lợp nhà. Phổ biến nhất vẫn là lợp nhà bằng tre. Chặt cây bương thành những đoạn đều nhau, bổ đôi, róc hết các mắt bên trong, dùng để lợp nhà. Một mảnh ngửa, một mảnh sấp úp lên trên, gọi là kiểu lợp “âm dương”. Căn nhà trông rất gọn gàng, xinh xắn. Nhưng khi mưa, thì trong nhà bị lâm thâm những hạt mưa nhỏ như bụi.

Một kiểu lợp khác là dùng lá “trung quân” một loại lá rừng dài và dầy, cứng, khó cháy, ghép lại trên những que nứa dài thành những tấm để lợp nhà...

Khoảng một tuần, toàn đơn vị đã có đủ nhà và hầm, trong nhà có giường nằm, bàn làm việc và đã có thể tháo võng để vào nhà ở. Sau đó xây dựng tiếp các cơ sở làm việc nhà và hầm cho thương bệnh binh, phòng điều trị... Các khoa Ngoại còn phải làm thêm phòng mổ, phòng hồi sức, phòng thay băng... Khoảng một tháng, công việc xây dựng có thể tạm coi là hoàn thành.

Lương thực, thực phẩm vẫn luôn luôn là nỗi lo của toàn đơn vị. Từ nơi chúng tôi ở, tới kho gần nhất phải mất 12 ngày, vừa đi, vừa về. Phương tiện vận chuyển duy nhất là gùi bộ. Nếu không tổ chức khéo và năng suất gùi thấp thì số gạo lĩnh được chỉ vừa để nuôi người đi gùi, không có đâu thừa để nuôi thương bệnh binh và nhân viên phục vụ ở nhà.

Chúng tôi phải tổ chức sáu cung trạm, như kiểu giao liên, giao gạo cho nhau ở giữa mỗi cung trạm, đảm bảo cho người gùi gạo có chỗ ăn ngủ ổn định và không phải mang theo tăng võng, giành toàn bộ sức lực cho việc gùi gạo. Lực lượng vận tải chuyên nghiệp không đủ, nên mỗi khoa phải cử một số người khoẻ đi gùi. Mọi người đều phải tham gia công tác vận chuyển, cụ thể là gùi gạo, không kể y tá, hộ lý hay y sĩ, bác sĩ. Số yếu thì ở nhà đảm nhiệm việc xây dựng và phục vụ thương bệnh binh.

Ngày 2 tháng 6 năm 1966. Trong buổi giao ban hôm trước tính toán số gạo còn ở đơn vị, tôi lo lắng không đủ gạo ăn, chúng tôi quyết định điều thêm người ra vận chuyển gạo, đồng thời vận động anh chị em ăn cháo vài bữa để khỏi hụt chân gạo.

Sáng hôm nay, sau một ngày ăn cháo, tôi đói mềm, mệt mỏi chống gậy xuống khoa xem tình hình đơn vị.

Tới bờ suối tôi gặp một nữ hộ lý trẻ của khoa 33 ra bờ suối giặt. Tay ôm một chậu quần áo, vừa đi vừa hát, vừa nhảy chân sáo. Tôi ngạc nhiên: Con bé này không có vẻ gì là đói cả.

Tôi hỏi: “Lịch à, mấy hôm nay khoa cô ăn uống ra sao?”.

Cô bé có vẻ ngạc nhiên về câu hỏi của tôi, trả lời điềm nhiên: “Dạ, vẫn như bình thường thôi ạ!”.

- Ăn cơm cả ba bữa chứ?

- Vâng.

Thế là tôi bắt quả tang, khoa 33 không chấp hành Nghị quyết chung. Đã giấu gạo không báo cáo. Tôi thẳng thắn phê bình tinh thần bản vị cục bộ của khoa 33 trong buổi giao ban sau. Anh Chủ nhiệm khoa chống chế, nhưng cuối cùng cũng phải nhận khuyết điểm...

Lác đác có một số bệnh binh vào Viện. Một vấn đề khác nảy sinh: Không có giấy để làm bệnh án. Toàn bộ giấy viết, bệnh án, sổ sách đều gửi theo vận tải mà chưa một xe nào vào tới nơi. Giấy viết thiếu nghiêm trọng. Trên mới cấp một số sữa cho thương bệnh binh. Các khoa đã phải bóc nhãn hộp sữa, dùng mặt trắng bên trong để viết, làm bệnh án. Để tiết kiệm giấy, các chỉ thị từ chỉ huy Viện xuống các khoa được viết vắn tắt vào mặt trắng trong các lòng mảnh tre. Một lần xuống khoa 34, tôi thấy tờ bích báo của khoa treo lủng lẳng các mảnh tre trên viết những câu thơ tứ tuyệt, ngắn gọn. Thật cảm động.

Nhân dịp sơ kết thành tích sáu tháng đầu năm 1966, để động viên tinh thần của anh chị em sau nửa năm vào chiến trường, chúng tôi vẫn tổ chức một buổi lễ long trọng, có liên hoan bằng thịt vượn. Nhưng bằng khen, giấy khen thì viết trên các mảnh tre...

Khổ nhất lúc này là các anh nghiện. Gạo không có ăn thì lấy đâu ra thuốc hút. Các anh phải bứt lá rừng, thái nhỏ, phơi khô, để thay cho thuốc lá. Không có cả giấy, cũng phải dùng lá rừng để cuốn. Thế mà cũng phì phèo, có vẻ thoải mái làm: “Cốt có chất khói!”.

Anh An, bác sĩ phụ trách truyền máu, là một trong những người lớn tuổi trong bệnh viện. Anh là người nghiện thuốc lá nặng, bị một bệnh rất đặc biệt: Phù do thiếu thuốc lá. Khi có thuốc hút thì hết phù!...

Sau này quan hệ được với đồng bào dân tộc địa phương, các anh nghiện đổi được thuốc lá dân tộc để hút. Một thứ thuốc thật nặng, khói đặc quánh, hắc xì... Nhưng cũng rất quý, các anh nâng niu từng sợi nhỏ và giấy cuốn thuốc luôn là chuyện khó khăn.

Có lần tôi bắt gặp mấy anh nghiện mơ ước với nhau: “Sau này hoà bình tao phải cuốn một điếu thuốc dài cả mét hút cho đã...”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:24:59 PM »


Ngày 15 tháng 7 năm 1966. Những ngày này, chúng tôi thiếu đủ mọi thứ, kể cả những thứ đơn giản nhất.

Một lần tôi định đóng chiếc đinh lên cột tre để treo cái mũ nhưng không tìm đâu ra được chiếc đinh, lần khác, tôi được mời dự việc phân chia tài sản giữa hai bộ phận Dược. Nguyên trước, họ chung một đơn vị nay tách làm đôi để làm hai nhiệm vụ khác nhau. Khoa Dược phục vụ Bệnh viện, còn xưởng Dược thì làm nhiệm vụ sản xuất thuốc cho chiến trường.

Hai dược sĩ cao cấp, phụ trách hai bộ phận vốn là hai người bạn thân thiết. Việc phân chia tiến hành suôn sẻ. Hai anh vui vẻ chia nhau nhân viên, một ít hoá chất và dụng cụ… Nhưng rồi tình hình trở nên căng thẳng, cãi nhau hồi lâu không giải quyết xong và yêu cầu phân xử của Chỉ huy Viện. Thì ra hai vị giành nhau một miếng kính, đúng ra là một mảnh kính ôtô vỡ. Tôi ngạc nhiên nhìn hai anh mặt đỏ tía tai, không anh nào chịu anh nào.

Anh Lôi, Chủ nhiệm khoa Dược trình bày rất dài dòng nào là anh nhặt được bao giờ, ở trạm nào, có ai làm chứng. Anh Trường, Phụ trách xưởng Dược, cũng không vừa, trình bày về nhu cầu của xưởng cần miếng kính đó.

Tôi sốt ruột ngắt lời hai anh: “Làm gì cái của nợ này mà hai ông tranh nhau? Bẻ nó ra làm đôi có được hay không?”.

Một cô dược tá, từ lâu vẫn im lặng ngồi làm việc bên cạnh, nghe hai thủ trưởng tranh luận, bỗng đứng phắt dậy nói xen vào:

“Không được đâu, thủ trưởng ơi! Không có miếng kính thì không làm được thuốc viên, mà bẻ ra thì nhỏ quá…”.

Lúc này tôi mới vỡ lẽ. Trong tình hình hiện nay để làm thuốc viên, anh chị em chỉ có cái là vê thuốc thành thỏi dài như con giun rồi cắt ra thành từng khúc nhỏ. Mỗi khúc là một viên. Mà không có một mặt phẳng như mặt kính thì không làm được thật.

Lấy đâu ra một mặt phẳng bây giờ? Bàn thì ghép bằng những thanh nứa gồ ghề, viết lá thư còn khó. Muốn có một mảnh gỗ cũng phải ra kho binh trạm xa vài ngày đường mà cũng chỉ có gỗ đóng thùng là gỗ xẻ thô ráp, không có cả chiếc bào để bào cho nhẵn. Vả lại mặt gỗ so sao được với mặt kính, không thấm nước, không dính thuốc, lại dễ cọ rửa...

Lúc này, tuy ôtô đã vào lới chiến trường, nhưng bãi đỗ xe cách bệnh viện hai ba ngày đường. Suốt ngày bom đạn. Chiếc nào vào đến đây cũng là loại “xe không kính” do bom đạn dọc đường. Và dù cho còn kính, thì ai dám phá đi để làm bàn vê thuốc viên cho bệnh viện? Cuối cùng tôi nghĩ ra được một cách phân xử. Tuy chia làm hai bộ phận, khác nhau về nhiệm vụ, nhưng cả hai vẫn ở cùng một khu rừng chỉ cách nhau con suối nhỏ. Vậy thì chia nhau thời gian sử dụng, anh dùng buổi sáng, anh dùng buổi chiều hoặc ngược lại. Hai anh dược sĩ, tuy vẫn còn ấm ức nhưng cũng đành chấp nhận phương án giải quyết của tôi.

Sau buổi xử kiện, trên con đường len lỏi trong rừng về nơi ở, tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Vinh, Viện trưởng khi chúng tôi chuẩn bị lên đường: “Ta phải chuẩn bị tinh thần sống như Robinson Crusoe thôi!”. Không ngờ câu nói đó lại trở thành sự thật. Chỉ có khác Robinson ngày xưa, chỉ phải chiến đấu với thiên nhiên để sống, còn chúng tôi bây giờ, không những phải chiến đấu với thiên nhiên, còn phải chống bom đạn của địch. Không chỉ để tồn tại mà còn để chiến đấu và chiến thắng!...


Ngày 10 tháng 8 năm 1966. Nhận được điện báo lên Bộ tư lệnh mặt trận dự chỉnh huấn, đồng thời xuống tuyến, giúp Viện 2 giải quyết số thương binh còn lại sau Chiến dịch Plây Me, tháng 11 năm 1965.

Trang thiết bị của Bệnh viện chưa vào tới nơi. Nhanh nhất cũng phải hết mùa mưa, sang mùa khô may ra mới vào được và tới lúc đó Bệnh viện mới có thể triển khai hoạt động. Không lẽ để cả đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật “ngồi chơi, xơi nước” mấy tháng trời không có việc làm, trong khi thương bệnh binh ở Viện 2, phía Nam của chiến trường lại đang cần, nên việc xuống tuyến giúp đỡ Viện 2 là rất hợp lý. Đây cũng là dịp để chúng tôi hiểu thêm về thực tiễn chiến trường...

Chúng tôi chuẩn bị lên đường. Đoàn đi gồm có anh Vinh Viện trưởng, anh Kính Chính uỷ và tôi. Các bác sĩ Âu, Lạc, Thọ, Kỷ, Thân, vợ chồng bác sĩ Cán - Đậm và vài chiến sĩ liên lạc.

Đang giữa mùa mưa. Mùa mưa đầu tiên của chúng tôi ở Tây Nguyên. Trời mưa suốt ngày đêm, bầu trời đầy mây nặng trĩu. Hầu như không có ngày nắng.

Đường đi mất 12 ngày, dọc qua ba binh trạm Bắc, Trung và Nam chiến trường Tây Nguyên, vượt nhiều dốc đá, nhiều suối. Anh em gọi là suối “Giải đế” cách gọi lái của bộ đội khu 5, vì con suối đầy nước, để vượt qua phải tụt hết quần áo. Đi qua Đội điều trị 82 đang triển khai trong một khu rừng nứa, qua những rừng cây săng lẻ, loại cây gỗ to, không thấy ở miền Bắc, cao vút, thân trắng loang lổ những vết sẫm như vết sẹo. Qua những hồ rộng...

Dọc đường đi gặp số bộ đội đi ra phổ biến đến kho được phát 8 món. Anh em chiến sĩ đi cùng reo cười ầm ĩ. Tám món đó là: gạo, đậu xanh, đường, sữa, mắm kem, mắm tôm, chao (một thứ nước chấm làm từ đậu tương) và một ít mỡ. Tiêu chuẩn như vậy coi là thiên đường rồi. Từ khi rời miền Bắc vào chiến trường nhiều anh em chưa được biết mùi miếng thịt. Gạo nhiều khi cũng thiếu. Vào tới đây cán bộ được phát đường, sữa theo cấp bậc. Cán bộ trung cấp từ tiểu đoàn trở lên, được phát hai hộp sữa, nửa cân đường; cán bộ sơ cấp từ đại đội trở xuống được một hộp sữa, ba lạng đường. Chiến sĩ thì không có đường sữa, các tiêu chuẩn khác cũng ít hơn.

Cách cấp phát theo cấp bậc này cũng nảy sinh sự suy bì. Anh em có câu nói mỉa mai: “đường sữa thì phát từ trên xuống, xẻng cuốc thì phát từ dưới lên”.

Tuy nhiên, với tinh thần đồng cam, cộng khổ của chiến trường, chúng tôi đã có cách giải quyết. Tối hôm được lĩnh đường, sữa, chúng tôi nấu một nồi chè đỗ xanh đặc quánh có cả sữa. Cả đoàn xì xụp, thật vui vẻ.

Đi khỏi đơn vị được vài ngày thì tôi lên cơn sốt rét. Chiều nào cũng sốt tới 39-40 độ C. Nhưng không thể ở lại, vẫn tiếp tục đi theo đoàn, người mệt rã rời, bước chân đi như trong mộng... Qua Đội điều trị 82, được tiêm một phát Quinin. Tôi lo lắng nhìn cô y tá bôi lên da cánh tay tôi nước lã đun sôi một cách rất tin tưởng: “Em tiêm như thế này nhiều rồi, không áp xe đâu thủ trưởng ạ!”.

Chiều hôm đó, chỗ tiêm sưng đau, tôi ôm một đống bi đông nước sôi, vào võng để chườm lên chỗ tiêm, giữa cơn rét run người đang ập tới. Sáng hôm sau, thấy cánh tay ran rát, cởi áo ra xem, ngạc nhiên thấy một mảng da bằng bàn tay phồng to, mọng nước do bị bỏng...

Dọc đường lác đác những nấm mồ mới đắp, chưa mọc cỏ, của những đoàn hành quân vào trước.

Qua sông Pô Cô trên một con thuyền độc mộc nhỏ chòng chành. Qua sông sẽ phải qua đường Quốc lộ 19, từ Plây Cu sang Campuchia, một con đường bị địch kiểm soát gắt gao. Anh lái đò là một bộ đội người dân tộc khắc khổ. Qua đò phải bỏ gậy, có lẽ vì sợ gậy chọc thủng sàn đò và vì phải qua một vùng địch thường qua lại, có thể lộ do các vết gậy để lại trên đường. Chị Đậm có cái gậy mang theo từ ngày đầu hành quân. Dọc đường, tới mỗi chỗ nghỉ, anh chị lại hì hục khắc tên địa phương đi qua lên thân gậy để làm kỷ niệm. Chị nói phải bỏ gậy lại thật lưu luyến như khi từ biệt người con thân yêu của anh chị ở Hà Nội.

Chúng tôi qua Đường 19 lúc chập tối. Đã mấy tháng nay, len lỏi trên những con đường mòn trong rừng, nay gặp con đường nhựa rộng thênh thang, mặt đường hằn vết xích xe tăng vừa quen thuộc, vừa như đe doạ có kẻ địch rình rập đâu đây. Qua Đường 19 là vào tới cánh Nam của chiến trường Tây Nguyên. Cảnh vật ở đây khác hẳn cánh Bắc. Không còn những khu rừng rậm bạt ngàn, giữa những đồi núi nhấp nhô, những con đường đèo dốc, mà là những khu rừng có săng lẻ, bằng phẳng, nhưng trống trải, khô cằn. Đi lại dễ dàng nhưng lại nơm nớp lo sợ máy bay phát hiện...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:28:23 PM »


Ngày 5 tháng 10 năm 1966. Hai tháng nay, chúng tôi làm việc ở Viện 2, Bệnh viện phụ trách khu vực cánh Nam của chiến trường Tây Nguyên. Bác sĩ Luận vào chiến trường trước chúng tôi một năm, nay là Viện trưởng. Tôi quen anh Luận từ năm 1955, khi chúng tôi cùng dạy giải phẫu ở trường Sĩ quan Quân y.

Bệnh viện xây dựng bằng tre nứa trong một khu rừng khộp. Thiếu nước nghiêm trọng. Cả Bệnh viện chỉ có một khe nước nhỏ. Khí hậu cánh Nam khác xa cánh Bắc. Trong khi ở cánh Bắc đang là mùa mưa, thì ở đây là mùa khô. Nóng hầm hập suốt ngày đêm.

Chúng tôi làm việc như các cán bộ chuyên môn tăng cường cho Viện 2. Hàng ngày, chúng tôi dậy sớm, ăn sáng xong là xuống ban Nội, Ngoại khám chữa bệnh, mổ xẻ tới quá trưa mới về. Buổi chiều lại hội chẩn, sinh hoạt khoa học, dạy học...

Khó khăn lớn nhất ở đây không phải là việc giải quyết vết thương do bom đạn, mà là việc giải quyết các bệnh Nội khoa.

Tây Nguyên là vùng có bệnh sốt rét lưu hành nặng cộng thêm tình hình thiếu dinh dưỡng, sự lao động mệt nhọc triền miên và biết đâu lại có thêm tác hại của các chất độc hoá học mà quân Mỹ rải quanh vùng, làm cho số bệnh binh nhiều vô tả. Anh em người gầy rạc, sốt rét, thiếu máu. Nhiều người lở loét, nằm co quắp trên sàn tre. Nhiều người ỉa chảy, không còn sức đi ra hố vệ sinh. Cả một lán bệnh binh, người ăn uống, chơi cờ, người sèn sẹt ngay ở đầu lán. Có những bệnh nhân ỉa chảy nặng quá, suy kiệt không còn ngồi dậy nổi. Nước phân chảy tong tỏng qua lỗ hậu môn rộng hoác. Chị em hộ lý phải đục một cái lỗ trên mặt giường, đặt một sọt đựng tro ở dưới giường để hứng phân, không thuốc nào ngừng được, cứ như vậy họ suy kiệt dần cho tới chết.

Nhiều người phù thũng toàn thân, đặc biệt hai bàn chân: Hai bàn chân phù to trắng nhợt, ngón tay ấn vào thành một vết lõm sâu. Các nan giường in thành vết hằn sâu trên bàn chân. Nhiều người từ bàn chân phù to, toác ra một vết nứt. Vết nứt loang rộng dần thành một mảng loét to, nhày nhụa mủ trên chân, điều trị hàng tháng trời không khỏi,

Bệnh sốt rét ở đây thật kinh khủng. Đoàn chuyên viên chúng tôi có 11 người thì có tới 8 người ốm. Mà toàn là các bác sĩ trứ danh của miền Bắc. Bác sĩ Âu chuyên gia về truyền nhiễm, cũng cứ mỗi tuần một hai cơn sốt. Hồng cầu tụt còn 2.400.000. Điều trị theo đủ các phác đồ mà vẫn không sao cắt được cơn. Nhiều lần tôi vừa đứng mổ, vừa run người vì sốt rét.

Bệnh viện tràn ngập bệnh binh. Số bệnh binh nằm viện hàng ngày từ 600 người, lên tới 700 rồi 800. Sốt rét ác tính liên tục xảy ra, phải cấp cứu ngày đêm. Hàng ngày 4, 5 người chết. Chúng tôi tính với nhau nếu mỗi ngày chôn 4 người, một tháng, một năm cứ tiếp diễn rồi sẽ ra sao.

Đầu tháng 9, chúng tôi được mời xuống thăm Bệnh xá Nông trường 1, đây là tên bí danh của Sư đoàn 1, mới ở hậu phương vào. Bác sĩ Toán, Chủ nhiệm Quân y Nông trường làm việc với chúng tôi. Tình hình sức khoẻ bộ đội cũng thật bi đát. Bệnh xá Sư đoàn, bình thường chỉ chuẩn bị để nhận khoảng 50 thương bệnh binh, mà hiện nay có tới hàng nghìn. Bệnh nhân hầu hết là sốt rét, nằm la liệt trong rừng. Sốt rét ác tính cũng liên tục xảy ra. Ngày nào cũng có vài trường hợp chết.

Anh Âu phát hiện thấy ở vùng này, ngoài sốt rét, còn có bệnh Tshusugamushi, một loại bệnh sốt do con mò, loại côn trùng sống trong các bụi cây gây ra. Ngoài triệu chứng sốt cao, khám người bệnh nhân có vết loét trên da do mò đốt, các hạch sưng, đau các cơ. Do ở vùng sốt rét nặng nên khi làm xét nghiệm máu có thể vẫn thấy ký sinh trùng sốt rét. Điều trị kháng sinh có kết quả tốt. Nhờ phát hiện này nhiều bệnh nhân trước đây bị chẩn đoán nhầm là sốt rét nay được điều trị tốt hơn và có kết quả hơn.

Là một cán bộ lâm sàng có kinh nghiệm, trước mỗi bệnh nhân, anh Âu thường không dừng ở chẩn đoán mà còn đánh giá tiên lượng. Có lần, anh Chính trị viên ban Nội nói với tôi: “Cái đầu của ông ấy thiêng lắm. Cứ thằng xem xong mà ông ấy lắc đầu là y như thằng ấy chết!”.

Thương binh cũng ở tình trạng bi đát... Những vết thương ứ mủ, những tay khoèo, chân thọt... Trong hai tháng ở Viện 2, chúng tôi xử trí được 89 thương binh của Chiến dịch Plây Me để lại. Đa số là những trường hợp viêm xương, một số bị rò ruột, rò phế mạc, có trường hợp áp xe não được anh Lạc mổ thành công đã gây không khí phấn khởi tin tưởng trong thương binh và nhân viên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #26 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:28:53 PM »


Ngày 25 tháng 9 năm 1966. Trên đường ra kho gạo gặp hai con voi đang thồ hàng cho Binh trạm Nam. Hai con vật to kềnh càng đi từng bước chậm chạp trên con đường mòn hẹp, cái vòi đu đưa sang phải rồi sang trái, cái tai to như cái quạt phe phẩy. Mỗi bước đi nặng nề, làm tung một đám bụi mù, lại xủng xoảng chiếc xích sắt to bằng cổ tay nối hai chân voi.

Một tốp lính trẻ đi sau voi, mấy lần định vượt mà không được. Con đường mòn hẹp bị hai con voi cồng kềnh chiếm hết. Chúng tôi cùng tốp lính đành cứ phải lững thững theo sau voi không phải để “ăn bã mía”, mà là để hít bụi, chờ tới một quãng đường rộng rãi sẽ tìm cách vượt qua. Đi một quãng dài con đường mòn vẫn kẹt giữa một bên là vách núi, một bên là vực sâu. Đám lính sốt ruột vì cứ phải đi sau voi trong đám bụi, bắt đầu cáu kỉnh, chửi... Không thấy quản tượng. Có thể vì trên những đoạn đường ngắn, quen thuộc, voi đã biết đường cứ tự đi…

Như biết có người mắng chửi phía sau, đột nhiên hai con voi không đi nữa, đứng nép vào bên đường, nhường chỗ cho đám bộ đội và chúng tôi vượt. Các con mắt nhỏ, nhưng tinh nhanh, nhìn chúng tôi chằm chằm. Nhưng thật bất ngờ, khi đám bộ đội đi ngang chúng thò vòi xuống đất, bốc một túm cát phụt vào mấy cậu lính trẻ, lúc nãy chửi to nhất và còn giơ tay đe doạ.

Rõ ràng là hình như con voi hiểu tiếng người và biết đùa nghịch trả thù...

Nhân dân vùng Nam Tây Nguyên có thói quen thuần dưỡng và dùng voi trong nhiều công việc gia đình. Các chiến sĩ ở lâu ở chiến trường kể cho chúng tôi nghe thật nhiều chuyện về voi.

Trong các bản đồng bào dân tộc, có những người chuyên bắt voi rừng để nuôi. Đó là những thanh niên khoẻ mạnh, can đảm. Họ mắc võng, nằm núp dưới bụng hai con voi nhà đã được huấn luyện kỹ, cho voi vào rừng, tìm đến một bầy voi rừng. Họ chọn một con voi rừng con, điều khiển cho hai con voi nhà đến gần, kẹp chú voi con vào giữa và dần dần tách nó ra khỏi đàn voi, dắt về bản... Tới đây đã có sẵn một hố sâu có thành đứng và đẩy chú voi con xuống hố. Mấy ngày đầu, người ta bỏ mặc cho chú voi nhịn đói tha hồ lồng lộn, đập phá. Khi đói lả mới bắt đầu vứt mía, thân cây chuối cho ăn. Chú voi lúc đầu có thể phản ứng, quăng thức ăn trở lại. Nhưng rồi đói quá bắt đầu ăn. Sau một hai tháng, phản ứng bớt dần, chịu ăn, quen dần với người cho ăn. Lúc này người ta mới đào vát thành hố cho voi lên, xích hai chân lại để voi tuy vẫn có thể đi lại nhưng không thể trở vào rừng và đi tới đâu cũng có thể dễ dàng phát hiện.

Ở vùng này, voi được dùng vào nhiều việc trong gia đình. Công việc chủ yếu là chuyên chở, kéo những vật nặng như kéo gỗ. Voi có thể kéo những thân cây dài, to bằng người ôm trượt trên những con đường mòn trong rừng. Nhưng voi cũng có thể làm cả những việc gia đình: có thể vào rừng dùng vòi, bẻ những cành cây khô mang về nhà làm củi. Voi có thể làm những công việc như trông trẻ. Khi mẹ lên nương, có thể để con nằm trong nôi, ru cho con ngủ. Buổi chiều, voi còn dùng vòi cắp đứa trẻ ra suối, rồi hút nước, phun cho đứa trẻ tắm.

Bộ đội ở cánh Nam cũng nuôi voi, dùng voi chuyển gạo đạn... Có thể sai voi ra rẫy nhổ sắn. Anh quản tượng có thể ra lệnh cho voi: Cứ nhổ năm bụi sắn thì cho mày một bụi. Thế là con voi biết tự mình lững thững ra nương, dùng vòi nhổ sắn và thực hiện đúng mệnh lệnh được giao, nhổ đúng năm bụi sắn để một bên rồi nhổ bụi thứ sáu ăn ngon lành, sau đó tiếp tục nhổ sắn tiếp, cho tới khi đủ số sắn cần thiết thì lại dùng vòi bó lại, mang về cho đơn vị.

Khi đi vận chuyển voi cũng thực hiện rất sòng phẳng nhiệm vụ và định mức hàng gùi. Thí dụ phải cõng trên lưng một tạ hàng đi qua quãng đường dài 5 tiếng thì cứ đều đặn như vậy mà đi. Nếu chất lên lưng voi nhiều hơn một tạ hoặc đi quãng đường xa hơn, thì nó nằm phục xuống đất, tỏ ý phản đối không đi nữa. Phải bỏ bớt hàng xuống hoặc phải cho dừng lại nghỉ.

Tuy nhiên voi cũng không máy móc và biết nghe lời động viên. Anh em kể lại đã có lần trong khi voi nằm phục xuống phản đối như vậy do phải vận chuyển nặng hơn, anh Chính trị viên đơn vị đã đến động viên: “Cố gắng lên, công việc cách mạng cần gấp. Gắng vài hôm sẽ cho nghỉ bù...”. Thế là con voi lại nhỏm dậy và lững thững tiếp tục làm nhiệm vụ.

Tuy nhiên mối quan hệ với voi không phải bao giờ cũng tốt đẹp. Một năm, nhân dịp tổng tổng kết thành tích sau chiến dịch và Đại hội mừng công, con voi Binh trạm được tặng thưởng. Mọi người đều vui mừng. Nhưng một chiến sĩ mới vào chiến trường, được giao nhiệm vụ giúp quản tượng trông nom con voi thì lại nói chọc tức: “Thưởng thiếc gì... có mà cho vào nồi!”.

Một lúc sau, anh đi lại gần con voi. Con voi liền lấy vòi quấn ngang người, nâng lên khỏi mặt đất, dường như cũng để doạ đùa, sau đó lại thả anh xuống đất... Tuy nhiên sau đó, anh chiến sĩ đau bụng dữ dội, người tái nhợt, khiêng tới bệnh viện thì chết... Có thể do anh lính trẻ bị sốt rét nhiều lần và có lá lách sưng to đã bị vỡ khi bị vòi voi quấn chặt bụng.

Mấy hôm liền, con voi như biết có tội, suốt ngày ủ rũ, mắt đỏ ngầu, lông dựng ngược, bỏ không ăn uống. Sang tới ngày thứ ba, thứ tư của tình trạng này thì nó nổi cơn điên, xông vào doanh trại, quật đổ nhà, giẫm đạp, đập phá lung tung. Mọi người phải bỏ chạy toán loạn, nó lồng đuổi theo. Một số chui xuống hầm trú ẩn. Voi còn thò vòi qua cửa hầm, định lôi ra.

Trước tình hình rối loạn có thể nguy hiểm cho tính mạng bộ đội, đơn vị đã phải ra lệnh bắn...

Đồng bào địa phương sau này cho biết, voi nuôi trong nhà, tuy đã ở với người lâu năm, nhưng vẫn có thể có thời kỳ trở lại với bản năng hoang dã cũ. Người có kinh nghiệm nuôi voi có thể phát hiện trước tình trạng này, khi thấy voi thay đổi tính nết, bồn chồn, bỏ ăn, mắt đỏ ngầu, rùng mình, toát mồ hôi, lông dựng ngược... trước những triệu chứng như vậy cần cho nghỉ việc, xích vào một gốc cây to, và cho nhịn đói trước khi voi phát ra điên loạn. Sau khi qua đợt khủng hoảng, cho voi ăn lại dần dần và như vậy sẽ tránh được những điều đáng tiếc như đã xảy ra với voi của Binh trạm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #27 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:29:20 PM »


Ngày 10 tháng 10 năm 1966. Trong bộ đội có danh từ “Bài ca ống coóng” hoặc ngắn gọn là “ca coóng”. Ống coóng là cái hộp bằng nhôm tròn, cao, có nắp dùng để đựng ruốc, hay thức ăn. Khi vào chiến trường, ống coóng trở thành một dụng cụ đun nấu cá nhân rất thuận tiện. Bắt được con cá, con cua, hái được mớ rau rừng cho vào ống coóng là có thể “cải thiện” được rồi. “Bài ca ống coóng” có tên từ đó và đồng nghĩa với nhậu nhẹt cá nhân riêng lẻ....

“Bần hàn sinh đạo tặc”, câu nói của các cụ thật không sai. Thiếu đói dẫn đến nhiều chuyện tiêu cực, ăn cắp của dân, ăn cắp của nhau. Trong bệnh viện chuyện bệnh nhân ăn cắp lẫn của nhau xảy ra rất nghiêm trọng. Sau một cơn sốt mê man, tỉnh dậy bao gạo đã không còn, mất dao, mất bật lửa, mất dép... Những thứ đó có thể đổi cho đồng bào địa phương, lấy gà, rau, củ sắn, bắp ngô... Có những cuộc ăn cắp có tổ chức. Tập kích vào kho của Bệnh viện, thậm chí cả kho của Mặt trận. Có người tổ chức hẳn một cái kho trong rừng để giấu của ăn cắp vì sợ nếu đem về lán bị anh em phát hiện.

Cuối tháng 9, chúng tôi được triệu tập đi dự cuộc chỉnh huấn của Mặt trận. Cuộc chỉnh huấn này tập trung vào vấn đề củng cố và nâng cao tinh thần chiến đấu. Với cán bộ thì chống hiện tượng bạc tình bạc nghĩa, thiếu trách nhiệm trong công tác tổ chức chỉ huy. Với chiến sĩ thì chống những hiện tượng vi phạm kỷ luật, chính sách, sút giảm tinh thần chiến đấu...

Đồng chí Châu, Chính uỷ mặt trận, người bé nhỏ nhưng sắc xảo, có cách tổ chức chỉnh huấn khá độc đáo. Không lên lớp lý luận dài dòng. Bước kiểm thảo, trong các cuộc chỉnh huấn ở hậu phương, thường rất nặng nề, đao to búa lớn, kéo dài hàng tuần lễ, ở lớp này thì chỉ cần báo cáo: Tôi thông rồi và có thể ra về làm việc. Dư luận cán bộ rất tán thành cách làm mới này.

Chính uỷ có một nương tăng gia không xa đường giao liên. Anh em bộ đội gọi là nương ông Châu. Nương ở trên một quả đồi trọc, trồng ít sắn, rau, có mấy căn nhà núp dưới gốc cây. Sau này nương trở thành trại an dưỡng cho cán bộ ốm yếu, có nơi nghỉ ngơi, bồi dưỡng, có thể lao động, trồng rau, tắm nắng... Đặc biệt ở giữa nương có trồng một cây dừa. Lúc này ở chiến trường không ai trồng dừa, chỉ trồng sắn, lúa, rau hoặc chuối. Không ai nghĩ tới chuyện ở lâu ở đây. Cán bộ đến an dưỡng nhìn cây dừa, lắc đầu bảo nhau: “Không biết bố này định ở đây đến bao giờ mà trồng dừa thế này...”. Có lẽ chính uỷ muốn lấy hình ảnh cây dừa để giáo dục tinh thần chiến đấu lâu dài ở chiến trường.

Chính uỷ có nhiều chủ trương mạnh dạn, táo bạo nhưng cũng có những chủ trương theo chúng tôi có phần thiên về ý chí, không thật sát với tâm lý cuộc sống cán bộ. Như chủ trương vào chiến trường thì chỉ làm việc, không cần đề bạt hoặc chủ trương nếu không sử dụng hết tiêu chuẩn theo quy định thì trả lại Nhà nước... gây thiệt thòi cho bộ đội và làm cho chiến trường B3 càng trở nên gian khổ. Trên thực tế, những chủ trương này không áp dụng được lâu và đã phải sửa vào những năm sau...

Vào tới Viện 2, chúng tôi gặp một cán bộ trung đoàn, bị tâm thần. Hỏi ra thì biết là một phái viên của Bộ gửi vào, bị giữ lại chiến trường.

Hàng năm, Bộ gửi vào nhiều đoàn phái viên để nắm tình hình chiến trường. Theo dư luận, nhiều vị phái viên rất ngán chiến trường B3. Chính uỷ Châu hình như có thành kiến với các phái viên, là chỉ vào chiến trường chớp nhoáng theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, dự vài cuộc Hội nghị tổng kết, ghi một vài số liệu, xuống thăm một vài đơn vị rồi báo cáo đã làm xong nhiệm vụ để trở về hậu phương đi khắp các Học viện, Quân khu, Quân binh chủng, ba hoa báo cáo kinh nghiệm chiến trường...

Thực ra thành kiến này, nếu có, cũng không oan. Chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm với hai vị phái viên Quân y phổ biến cho chúng tôi kinh nghiệm “dùng nan hoa xe đạp để làm cọc căng tăng”.

Chính uỷ đưa ra chính sách mới: Rất hoan nghênh các vị phái viên của Bộ gửi vào chiến trường. Nhưng yêu cầu các vị phái viên ở lại chiến trường tham gia chiến đấu một vài chiến dịch. Nếu là cán bộ cấp Trung đoàn thì đưa xuống trung đoàn, nếu là cán bộ Tiểu đoàn thì đưa xuống tiểu đoàn... Cần trở về hậu phương báo cáo ư? Sẽ cử người khác ra...

Cách xử lý bất ngờ này làm cho nhiều vị phái viên choáng váng, tái người. Một số vị tìm cách tránh mặt Chính uỷ, vin lý do này nọ, viết thư chào từ biệt rồi nhanh chóng rút giò. Các vị không tránh được thì đưa ra nhiều lý do: nào là chưa kịp bàn giao công việc cho người khác, nào là chưa chuẩn bị hậu phương, chính sách...

Mỗi lý do đưa ra đều có ngay phương án giải quyết: có thể viết thư ra, có thể điện ra...

Hết ý kiến. Nhiều anh đành khoác ba lô, miễn cưỡng xuống đơn vị. Nhưng có vị cố tình nằn nèo xin ra, thì nắm chắc là ra tới nơi có kỷ luật chờ sẵn và có thể kèm quyết định trở lại chiến trường.

Anh trung tá chúng tôi gặp ở Viện 2 là một trường hợp tương tự. Anh đã hốt hoảng thực sự khi bị “bắt cóc” ở lại chiến trường, kẹt giữa hai con đường, ở lại thì sợ chiến đấu ác liệt gian khổ, mà đi ra thì sợ kỷ luật. Anh phát bệnhtâm thần được đưa vào Viện 2 trong trạng thái trầm cảm. Hàng tháng trời cứ ăn xong lại ngồi xoay mặt vào tường, hỏi không nói, gọi không thưa hoặc hí hoáy viết. Có đêm, anh đột nhiên gọi bác sĩ trực thì thào: “Anh làm chứng cho tôi, tôi có điều này rất bí mật, chỉ nói riêng với anh”, rồi lảm nhảm những chuyện đâu đâu...

Tuy nhiên, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hàng đoàn, hàng đoàn bộ đội vẫn rầm rập vào chiến trường và bắt tay vào công tác chuẩn bị chiến đấu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #28 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:30:45 PM »


Ngày 1 tháng 11 năm 1966. Có tin từ Bắc vào cho biết, khoa Dược của Viện 211 đã sản xuất được rượu. Thật là một tin vui với chúng tôi...

Chắc sau này, ai không trải qua hoàn cảnh chiến trường Tây Nguyên những năm gian khổ này, sẽ phì cười mà cho rằng sản xuất rượu thì có gì là ghê gớm mà phải kể?

Đúng là, ở hậu phương, có lẽ bất cứ ở đâu, nông thôn hay thành thị, đều có người làm rượu và bán rượu. Bất cứ bà nội trợ nào cũng biết cách làm rượu nếp cho gia đình trong dịp tết Đoan ngọ. Ấy thế mà cũng thành vấn đề ở chiến trường miền Nam lúc này. Trên đường vào, suốt dọc Đường dây 559, tới trạm nào, chúng tôi cũng ghé thăm trạm Quân y và ở đâu cũng thấy cảnh y tá chỉ dùng miếng bông, đúng là làm phép nhúng vào nước lã đun sôi để nguội bôi qua loa lên da bệnh nhân để gọi là “sát trùng” trước khi tiêm. Nếu hỏi sẽ được trả lời: “Không có cồn để sát trùng”.

Cồn từ hậu phương chuyển vào bị “bốc hơi” hết dọc đường. Chữ “bốc hơi” ở đây đúng cả nghe đen lẫn nghĩa bóng, vì bản thân cồn là chất dễ bay hơi, vận chuyển xa chắc cũng hao hụt phần nào. Nhưng cũng còn nhiều cách bay hơi khác, do địch bắn phá, do các kho trạm dọc đường hoặc lái xe lấy ra nhậu nhẹt...

Hậu quả dễ thấy nhất của việc này là các áp xe do tiêm. Nếu khám bất cứ anh bộ đội nào vào chiến trường lâu năm đều có thể thấy các vết sẹo ngang dọc do chích áp xe để lại trên bắp tay, trên đùi, trên mông...

Áp xe do tiêm đã là tai biến xảy ra hàng ngày ở các cơ sở điều trị, hàng tháng các bệnh viện phải mổ hàng trăm trường hợp áp xe như vậy.

Giải quyết thuốc sát trùng, cụ thể là cồn là công việc đầu tiên do khoa Dược. Muốn có cồn thì phải có rượu. Mà muốn có rượu thì phải có tinh bột và men. Khó khăn ở đây là men để biến tinh bột thành rượu.

Ở hậu phương có thể mua được men để nấu rượu, nhưng ở giữa rừng Tây Nguyên này làm sao có được men? Điện ra Hà Nội xin, thì phải hàng năm, may ra mới có...

Trong lúc đang bí thì một suy nghĩ bất ngờ nảy ra trong đầu chúng tôi trong một bữa cơm liên hoan với đồng bào địa phương. Đồng bào có rượu cần! Tất là phải có men.

Thế là khoa Dược của Bệnh viện cử anh Môn, dược sĩ trung cấp, cùng một dược tá khoác ba lô vào bản gần Bệnh viện, “ba cùng” với nhân dân để học cách làm men của đồng bào.

Một tháng sau, cậu Môn mới trở về, đem theo kinh nghiệm làm men nấu rượu từ lá cây rừng và anh Lôi Chủ nhiệm khoa Dược đem ra ứng dụng.

Anh em vào rừng tìm rễ, lá cây để làm men. Sau đó ra kho gạo tìm “gạo đất” thứ gạo hẩm, vét kho... Trong khi đó thì tổ gò rèn của anh Khum cũng lặn lội vào rừng, tìm nhôm và ống rốc két từ xác máy bay rơi, gò được một nồi cất “thuỷ thượng” để cất rượu và sản xuất thành công mẻ rượu đầu tiên ở chiến trường.

Kinh nghiệm của Viện 211 được phổ biến nhanh chóng. Tuy loại men học được của đồng bào có năng suất thấp, nhưng cũng đã giải quyết được khó khăn bước đầu. Từ rượu, các dược sĩ đã dễ dàng cất lại thành cồn 70 độ dùng để sát trùng và cồn 90 độ cho những nhu cầu đặc biệt.

Những năm sau, chúng tôi nhận được men vi sinh của hậu phương gửi vào, có năng suất cao hơn. Cùng với phong trào tăng gia tự túc lên cao, đơn vị nào cũng có nương, vừa trông nương, vừa sản xuất rượu cho đơn vị.

Từ những năm 1968 - 1969 trở đi, chiến trường Tây Nguyên có thể hoàn toàn tự túc được về rượu và cồn cho chuyên môn, không còn phải xin đưa từ hậu phương vào. Không những thế, còn có đủ rượu để phục vụ cho các buổi liên hoan của bộ đội vào dịp lễ, Tết.


Ngày 10 tháng 12 năm 1966. Chiến dịch Sa Thầy mở từ 18 tháng 10 đến 1 tháng 12 năm 1966 đã kết thúc.

Trận chiến đấu của Trung đoàn 88, một trung đoàn chủ lực mới vào chiến trường được coi như điển hình cho tài thao lược của bộ đội ta.

Trung đoàn được giao nhiệm vụ phục kích ở bờ Tây sông Sa Thầy, trong vùng giải phóng của ta. Xa các căn cứ của địch khoảng 30-40 cây số. Bộ đội được giao nhiệm vụ đánh vào một ngọn đồi không có địch, ở sâu trong hậu phương ta... Mệnh lệnh được giao là cứ bí mật nằm chờ ở bên đồi, đào hố sâu để tránh thương vong khi bị địch oanh tạc, cắt sẵn đường xuất kích lên đỉnh đồi, rải sẵn những vỏ cây có lân tinh và những bẹ chuối rừng trên đường xuất kích để chuẩn bị đánh đêm cho khỏi lạc. Pháo cối đặt sẵn trong công sự, đo sẵn cự ly, chuẩn bị sẵn phần tử bắn. Sau đó ngày ngày chỉ còn việc đi vác gạo, ăn và luyện tập theo giả định có địch nhảy dù đóng trên đồi.

Tâm lý của lính khi ra trận chẳng ai muốn nằm chờ đợi hàng tháng trời ở hậu phương, trong không khí căng thẳng, chịu đựng sốt rét, ăn uống thiếu thốn, đêm ngày tập luyện theo một giả định, là địch sẽ tự dẫn ra đúng ngọn đồi đã chuẩn bị trước để ăn đòn không biết có thực hiện được hay không. Một tuần rồi hai tuần trôi qua, tiếng súng vẫn ì ầm xa xa. Ở đây hoàn toàn yên tĩnh. Cán bộ, chiến sĩ chờ lâu sốt ruột, bắt đầu thắc mắc ầm ỹ... xin được đi chiến đấu.

Nhưng Bộ tư lệnh mặt trận vẫn kiên trì chờ đợi. Nắm chắc tính hung hăng của quân Mỹ trong giai đoạn đầu cuộc chiến tranh đặc biệt này: ỷ vào thế mạnh của không quân và pháo binh, khi thấy xuất hiện quân ta, chúng nhảy cóc sau lưng quân ta để bao vây tiêu diệt.

Một đơn vị nhỏ chọc vào vị trí tiền tiêu của Mỹ trên bờ Tây sông Pô Cô. Chúng im lặng mấy hôm, thăm dò. Máy bay lồng lộn trên trời bắn phá. Lại chọc lần thứ hai. Một đại đội Mỹ nhảy xuống bờ Đông sông Pô Cô, giữa hai sông Sa Thầy và Pô Cô. Chiến thuật “nhảy cóc” bắt đầu. Chọc cú thứ hai chúng nhảy tiếp xuống tới bờ Tây sông Sa Thầy để “chặn đường rút của Việt cộng”.

Ngọn đồi bên bờ Đông sông Sa Thầy đang lặng yên, bỗng rung lên vì bom đạn thả xuống ồ ạt. Máy bay như đàn chuồn chuồn, tầng tầng lớp lớp hết đợt này đến đợi khác ngang dọc trên trời.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11333



« Trả lời #29 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:32:41 PM »


Ngày 11 tháng 11, sau những trận bom dữ dội tưởng chừng không một sinh vật nào sống nổi, hàng đàn máy bay trực tiếp lên xuống thả một tiểu đoàn Mỹ vào đúng ngọn đồi nơi quân ta chờ sẵn...

Đêm 11 tháng 11, Trung đoàn 88 xuất quân đánh. Nhưng thật bất ngờ, bom đạn của địch rải ồ ạt quanh ngọn đồi làm cây đổ ngổn ngang, dây điện bị cắt, các con đường chuẩn bị trước bị phá không còn vết tích. Không tấn công được lên đồi. May sao Bộ Tư lệnh đã chuẩn bị phương án phụ. Lần đầu tiên ở chiến trường Tây Nguyên cho sử dụng cối hạng nặng 120 ly. Một trận mưa pháo cối làm rung động ngọn đồi. Tiểu đoàn Mỹ bị tiêu hao nặng và sáng hôm sau phải ôm đầu máu rút chạy.

Chiến trường thắng lợi lớn. Theo thông báo, tiêu diệt được 2.400 tên địch. Ta thương vong ít. Không khí chiến thắng phấn khởi dạt dào trong bộ đội Tây Nguyên.

Ngày 15 tháng 12 năm 1966. Từ cuối tháng 10 năm 1966, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ ở Viện 2, nhận được lệnh quay ra cánh Trung phục vụ chiến dịch Sa Thầy.

Đoàn chia làm hai: Bác sĩ Lạc, Cán, Đậm đi giúp Đội điều trị 4. Tôi và bác sĩ Thọ, Thìn, Kỷ thì ra giúp Đội điều trị 3. Bác sĩ Bích, Thân cũng từ Phi Hà vào tăng cường cho Đội điều trị 3.

Trong suốt chiến dịch, việc giải quyết thương binh không gặp khó khăn gì lớn, nhưng bệnh binh vẫn là đáng lo ngại. Bệnh do thiếu dinh dưỡng phát triển như một bệnh dịch. Hàng loạt bệnh nhân tê phù liệt, ăn gạo hẩm, mốc, dự trữ lâu ngày, không còn sinh tố B1, cộng với lao động nặng nhọc là nguyên nhân gây bệnh. Nhiều trường hợp đột tử do phù tim. Một y tá ban Nội của Điều trị 3 đang giao ban, lăn ra chết. Nhiều trường hợp tưởng chừng như giả vờ. Có người đang khoẻ mạnh ngồi ăn cơm, bỗng nhiên cánh tay thõng xuống và liệt luôn.

Tôi đã cùng với bác sĩ Bích mổ tử thi cho một số bệnh nhân chết đột ngột nói trên, thấy trái tim giãn to như quả bưởi. Thành tim mỏng dính như tờ bìa mỏng, nhợt nhạt, nhẽo không còn chút cường kiện... thật đáng sợ.

Trong có gần một tháng ở Viện 3, anh Bích cùng với anh Huy tổng kết được hơn một trăm trường hợp chết vì phù tim do thiếu sinh tố B1.

Tuy đã làm nghề Y hơn hai chục năm qua kể cả trong kháng chiến chống Pháp, chưa bao giờ tôi chứng kiến một trạng thái bệnh lý đáng sợ như vậy.

Khi hỏi các bác sĩ lớn tuổi, có nhiều kinh nghiệm hơn, như anh Vinh thì anh ghé tai bảo tôi: “Các bệnh này chỉ thấy trong các trận đói”.

Sinh tố B1 lúc này như một thần dược, chỉ cần tiêm một mũi là cánh tay bị sã xuống do tê liệt lại bắt đầu cử động được.

Và khi Quân y mặt trận phát sinh tố B1 để uống dự phòng cho toàn thể bộ đội trong chiến trường thì bệnh lui dần.

Cũng ở Đội điều trị 3, tôi phải mổ cho một tiểu đoàn trưởng bị một vết thương vào kheo chân. Phòng mổ sơ sài bằng tre nứa. Bốn vách và trần căng vải màn trắng. Sau khi tiêm thuốc gây mê vào tĩnh mạch, dưới ánh sáng của ngọn đèn xe đạp, tôi bắt đầu ca mổ. Vết thương chảy máu nhiều, người thương binh nhợt nhạt... Qua những lớp cơ dập nát, ứ máu cục và mủ. Tôi tìm được động mạch bị đứt đôi. Cũng còn may là máu đã tự ngừng chảy nên thương binh mới tới kịp tay chúng tôi. Tôi suy nghĩ hồi lâu trước ống động mạch đứt to gần bằng cái đũa, đập thình thịch dưới ngón tay tôi... Mảnh đạn đã cắt đứt một đoạn dài. Thương binh đến chậm, các tổ chức xung quanh đã nhiễm trùng. Không còn cách nào khác, chỉ có thể thắt hai đầu mạch máu đắt... Như mọi phẫu thuật viên đều biết động mạch kheo được xếp vào loại mạch máu “nguy hiểm” ít có nhánh bên. Nếu thắt sẽ có tỷ lệ cao thiếu máu, dẫn tới hoại tử đoạn chân phía dưới và sẽ cắt cụt chân.

Đây là một ca mổ đầu tiên của tôi trong chiến dịch mà lại phải kết thúc bằng việc cưa chân cho một cán bộ tiểu đoàn thì thật quá buồn....

Tôi thực sự lo lắng trong những ngày sau mổ... hàng ngày, dù bận mấy, tôi cũng phải ghé qua lán thăm anh thương binh. Xem xét vết thương, sờ nắn bàn chân, bảo anh ngó ngoáy các ngón chân. Tôi dùng mọi biện pháp có thể dùng được lúc này như tiêm thuốc vào động mạch đùi, phong bế giao cảm lưng hy vọng làm giãn mạch và tăng cường sự nuôi dưỡng cho đoạn chân phía dưới.

Hai ba ngày, rồi một tuần trôi qua. Tôi thật ngạc nhiên và vui mừng khi thấy chân vẫn ấm, chứng tỏ máu vẫn xuống đủ nuôi dưỡng cho đoạn chi phía dưới... Vết thương liền sẹo dần, anh thương binh ngồi dậy, đi lại được và ra viện sau hơn một tháng.

Ca phẫu thuật đầu tiên này và những kinh nghiệm tiếp sau đã làm cơ sở cho tôi hình thành một giả định, được các phẫu thuật viên khác ở chiến trường thừa nhận và góp thành một tổng kết về vết thương mạch máu ở chiến trường Tây Nguyên. Giả định đó là dường như do cường độ lao động cao qua các cuộc hành quân đường dài, mang vác nặng, nên trong cơ thể bộ đội Tây Nguyên đã hình thành một mạng lưới phong phú các mạch máu bàng hệ để tăng cung cấp máu cho cơ thể. Nhờ hệ thống này mà khi thắt một mạch máu chính, vẫn có những con đường phụ thay thế, nhờ vậy không gây thiếu máu cho phần cơ thể phía dưới.

Tất nhiên, việc thắt một mạch máu bao giờ cũng là một việc bất đắc dĩ, nhưng trong hoàn cảnh chiến trường, có thể cứu được tính mạng thương binh mà không gây biến chứng như sách vở thường nói...

Kinh nghiệm này làm cho tôi nhớ tới một chuyên gia Liên Xô sang giúp Viện Quân y 108 vào những năm 1958 - 1960, Giáo sư Kratsvitốp. Ông thật sự là một phẫu thuật viên tài năng. Đây là những năm hoà bình đầu tiên sau kháng chiến chống Pháp, ông đã giúp chúng tôi giải quyết nhiều thương binh có những di chứng vết thương chiến tranh thật khó khăn từ các chiến trường gửi về.

Tôi còn nhớ một thương binh bị thông động tĩnh mạch đùi, đã qua nhiều tuyến Quân y xử trí. Vào Viện với một bên đùi to gấp đôi đùi lành. Các mạch máu như những búi giun chằng chịt dưới da đùi. Các giáo sư ở Bệnh viện lúc đó đã mấy lần đưa anh lên bàn mổ. Nhưng vừa rạch qua da máu đã chảy ào ào như suối, không thể nào mổ được đành phải khâu lại. Anh thương binh đã mang một bên chân nặng nề, không tác dụng hàng chục năm, đã chán nản hết hy vọng. Nhiều lần xin cắt bỏ cái chân vô dụng đi. Cắt bỏ thì quá dễ, nhưng không lẽ lại bó tay.

Giáo sư Kratsvitốp đã nhận mổ. Cuộc mổ làm cho mọi người xem phải thán phục. Bằng những động tác nhanh nhẹn và điêu luyện, ông đã vừa dùng các ngón tay, chẹn các mạch máu chảy, vừa đi thật nhanh tới lỗ rò giữa hai mạch máu khâu bịt lỗ rò, rồi quay ra cầm máu...

Đùi anh thương binh xẹp nhỏ lại nhanh chóng và sau một tháng điều trị đã ra Viện, đi lại được trên đôi chân của mình trong niềm vui của cả tập thể thương bệnh binh và các bác sĩ điều trị.

Nhưng với một trường hợp thương binh khác bị một lỗ rò động tĩnh mạch ở cổ động mạch cảnh gốc. Ai cũng biết đây là động mạch duy nhất đưa máu lên não. Các sách vở đều nói đây là động mạch nguy hiểm nếu thắt sẽ có nguy cơ gây thiếu máu não. Giáo sư Kratsvitốp đã mổ, gặp nhiều khó khăn và đã phải thắt. Tuy nhiên ông vẫn bình tĩnh nói với chúng tôi: Các anh yên tâm, tôi đã mổ nhiều trường hợp như thế này trong Đại chiến 2, không việc gì đâu!

Sau mổ, bệnh nhân hôn mê kéo dài, dấu hiệu của thiếu máu não... Mời ông đến, ông thăm lần đầu, lần thứ hai... rồi sau đó, ngồi lỳ trong phòng khách sạn, uống rượu, hết chai này tới chai khác, không ra khỏi cửa...

Kinh nghiệm ở chiến trường giúp tôi suy nghĩ và hiểu thêm Giáo sư Kratsvitốp. Là một phẫu thuật viên của Hồng quân trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, có lẽ ông thật sự tin rằng có thể thắt một cách an toàn động mạch thường được coi là nguy hiểm. Sai lầm của ông là ở đối tượng bệnh nhân.

Khi ông mổ cho Hồng quân, có lẽ lúc đó họ cũng giống như chúng tôi bây giờ, cũng là những đôi chân đồng, vai sắt, hành quân đi bộ hàng nghìn cây số. Còn khi mổ ở Việt Nam vào những năm 60, qua nhiều năm hoà bình, có thể các thay đổi trong cơ thể, trong điều kiện lao động cao độ trước đây nay đã trở lại bình thường... Dù sao đây chỉ là những giả định.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM